Giới & Luật là gì?
“Giới” và “Luật” thường đi đôi với nhau, nhưng mỗi chữ có một sắc thái riêng.
Những nguyên tắc đạo đức Đức Phật dạy cho cả người xuất gia lẫn tại gia: bỏ ác, làm lành, hướng đến giác ngộ.
- Mang tính tổng quát.
- Thường dùng cho Phật tử tại gia (ngũ giới, bát giới).
Những điều học cụ thể quy định đời sống của Tăng đoàn, được ghi lại trong Tạng Luật.
- Mang tính thực tiễn, chi tiết.
- “Giới luật” thường dùng cho người xuất gia.
Ví dụ của HT. Thích Thiện Siêu (Cương yếu Giới luật)
Chữ Sīla nghĩa là gì?
Trong Thanh Tịnh Đạo (chương I), Ngài Buddhaghosa giải thích: sīla có nghĩa là sīlana, và chữ này mang hai nghĩa:
Thân và khẩu được giữ gìn đúng mực, không buông thả, không tán loạn.
Làm nền tảng cho các thiện pháp, như mặt đất là chỗ dựa cho cây cối mọc lên.
Nói gọn: Giới là nền tảng của mọi thiện pháp — trên nền giới mới xây được định, trên định mới phát sinh tuệ.
Pātimokkha — Giới bổn giải thoát
Bắc truyền phiên âm là Ba-la-đề-mộc-xoa và hiểu là “biệt giải thoát”: giữ được giới nào thì thoát khỏi lỗi lầm của giới ấy; giữ càng nhiều giới thì càng được giải thoát.
Vì sao có giới luật?
Đức Phật không đặt ra luật trước. Mỗi điều học chỉ ra đời khi có một sự việc cụ thể xảy ra trong Tăng.
Tăng đoàn phần lớn là các bậc Thánh, đời sống tự nhiên thanh tịnh nên chưa cần chế điều học. Theo bài giảng, giai đoạn này kéo dài khoảng 12 năm.
Tại Verañjā, Ngài Xá-lợi-phất thỉnh Đức Phật chế giới để Phạm hạnh được lâu dài. Đức Phật dạy hãy chờ: khi trong Tăng xuất hiện những việc làm sanh lậu hoặc, Như Lai sẽ chế điều học.
Người xuất gia ngày càng đông, đủ mọi thành phần; bắt đầu có những việc làm sai trái.
Vị này hành dâm với người vợ cũ, bị các Tỳ-khưu chê trách. Đức Phật chế điều học đầu tiên:
Có duyên sự, Đức Phật mới chế điều học; nhiều điều còn được bổ sung dần khi gặp trường hợp mới.
Một điều học ra đời như thế nào?
Trong Tạng Luật, mỗi điều học đều được kể theo cùng một trình tự:
Lợi ích của giới
Mỗi lần chế một điều học, Đức Phật đều nêu cùng một lý do: mười điều lợi ích. Đọc kỹ sẽ thấy chúng đi thành năm cặp.
- 1Sự tốt đẹp của Tăngsaṅghasuṭṭhutāya
- 2Sự an lạc của Tăngsaṅghaphāsutāya
- 3Chế ngự những người xấu ácdummaṅkūnaṃ puggalānaṃ niggahāya
- 4Sự an trú của Tỳ-khưu hiền thiệnpesalānaṃ bhikkhūnaṃ phāsuvihārāya
- 5Ngăn ngừa lậu hoặc trong hiện tạidiṭṭhadhammikānaṃ āsavānaṃ saṃvarāya
- 6Trừ diệt lậu hoặc trong tương laisamparāyikānaṃ āsavānaṃ paṭighātāya
- 7Đem lại niềm tin cho người chưa tinappasannānaṃ pasādāya
- 8Tăng thêm niềm tin cho người đã tinpasannānaṃ bhiyyobhāvāya
- 9Chánh Pháp được tồn tại lâu dàisaddhammaṭṭhitiyā
- 10Hỗ trợ cho Luậtvinayānuggahāya
📜Mười lợi ích — lời Đức Phật trong Tạng Luật“Này các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích…”
“Này các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: nhằm sự tốt đẹp cho hội chúng, nhằm sự an lạc cho hội chúng, nhằm việc trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm sự lạc trú của các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, và nhằm sự hỗ trợ Luật.”
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu, Tỳ-khưu Indacanda dịch
Từ giới đến giải thoát — mười bậc thang
Trong Kinh Ý Nghĩa Gì (Tăng Chi, AN 10.1), Tôn giả Ānanda hỏi các thiện giới có ý nghĩa gì, lợi ích gì. Câu trả lời cho thấy giới không dừng ở chỗ “không phạm lỗi”: đó là bậc thang đầu tiên dẫn đến giải thoát. Bấm ▶ Bước lên hoặc bấm vào từng bậc.
📜Kinh Ý Nghĩa Gì — Tăng Chi (AN 10.1)“Như vậy, này Ananda, các thiện giới thứ lớp dẫn tới tối thượng.”
“Như vậy, này Ananda, các thiện giới có ý nghĩa không hối tiếc, có lợi ích không hối tiếc, không hối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan. Hân hoan có ý nghĩa hoan hỷ, có lợi ích khinh an. Khinh an có ý nghĩa an lạc, có lợi ích an lạc. An lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định. Ðịnh có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi ích như thật tri kiến. Như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, ly tham, có lợi ích nhàm chán, ly tham. Nhàm chán ly tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến. Như vậy, này Ananda, các thiện giới thứ lớp dẫn tới tối thượng.”
Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, Phẩm Lợi Ích, Kinh Ý Nghĩa Gì (AN 10.1) — HT. Thích Minh Châu dịch
🔎Đối chiếu Bắc truyền Kinh Hà Nghĩa — Trung A-hàm 42Bản Hán tạng tách thành 12 bậc (yếm ly, vô dục, giải thoát… đứng riêng).
“Cho nên, này A-nan, nhân trì giới mà được không hối hận, nhân không hối hận mà được hân hoan, nhân hân hoan mà được hỷ, nhân hỷ mà được an chỉ, nhân chỉ mà được lạc, nhân lạc mà được định.
Này A-nan, Đa văn Thánh đệ tử nhân định mà có tri kiến như thật, nhân có tri kiến như thật mà có yếm ly, nhân có yếm ly mà được vô dục, nhân vô dục mà được giải thoát, nhân giải thoát mà có giải thoát tri kiến, biết đúng như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.”
Trung A-hàm, Kinh Hà Nghĩa — HT. Thích Tuệ Sỹ dịch
Mắt xích then chốt: “các thiện giới có ý nghĩa không hối tiếc”. Người giữ giới trong sạch thì lương tâm không bị dằn vặt; tâm không dằn vặt mới dễ vui, dễ lắng, dễ định. Kinh kế tiếp (Nghĩ Với Dụng Ý, AN 10.2) còn dạy: “với người có giới, có giới đầy đủ, không cần phải làm với dụng ý rằng: ‘Mong rằng không hối tiếc sẽ sanh khởi nơi ta’. Pháp nhĩ là vậy…” (HT. Thích Minh Châu dịch)
Năm quả báu của việc học Tạng Luật Tỳ-khưu Hộ Pháp
Mười lợi ích ở trên là lý do Đức Phật chế giới. Còn người học Luật thì được gì? HT. Hộ Pháp dẫn bộ Parivāra (Tập Yếu): Ngài Trưởng lão Upāli hỏi Đức Phật về quả báu của việc học Tạng Luật, và Đức Phật dạy có năm quả báu:
- Chính mình biết giữ gìn giới luật được trong sạch.
- Là nơi nương nhờ của những người khác: họ đến học hỏi để hiểu rõ giới luật.
- Có thiện tâm dũng cảm trong các hội chúng.
- Thắng kẻ thù bên trong là phiền não, và thắng kẻ thù bên ngoài bằng chánh pháp.
- Hành theo chánh pháp để duy trì chánh pháp được trường tồn.
Nguồn: Tỳ-khưu Hộ Pháp, Quyển I · Tam Bảo, mục “Quả báu của việc học Tạng Luật Pāḷi”.
Tứ thanh tịnh giới
Giới đầy đủ của một vị Tỳ-khưu gồm bốn phần, gọi là Tứ thanh tịnh giới (catupārisuddhisīla). Theo Thanh Tịnh Đạo, mỗi phần được thành tựu nhờ một pháp riêng: Tín · Niệm · Tấn · Tuệ.
Giữ trọn các điều học trong Giới bổn Pātimokkha.
- Đầy đủ oai nghi chánh hạnh.
- Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt.
- Có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo thì quý giới hơn cả mạng sống.
📜Kinh Giới Bổn — Tương Ưng Niệm Xứ (SN 47.46)“…hãy sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn…”
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn (Pātimokkha), đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới…”
Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Niệm Xứ, Kinh Giới Bổn (SN 47.46) — HT. Thích Minh Châu dịch
📜Kinh Sa-môn Quả (DN 2), đoạn 42“Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn…”
“Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.”
Trường Bộ, Kinh Sa-môn Quả (DN 2) — HT. Thích Minh Châu dịch
Canh giữ sáu cửa giác quan mỗi khi tiếp xúc với sáu trần:
- Không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
- Có chánh niệm, thấy rõ chỉ là danh và sắc — không phải ta, người, chúng sanh.
- Nhờ vậy nội tâm an lạc, không vẩn đục.
📜Kinh Sa-môn Quả (DN 2), đoạn 64“Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn?…”
“Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Ðại vương, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo hộ trì các căn.”
Trường Bộ, Kinh Sa-môn Quả (DN 2) — HT. Thích Minh Châu dịch
Nuôi thân bằng những gì được cúng dường đúng pháp, qua bốn việc ăn, mặc, ở, bệnh.
Mỗi lần dùng, quán xét: vật này chỉ để che thân, nuôi thân, tránh nóng lạnh, chữa bệnh để tu tập; nó chỉ do tứ đại hợp thành — không nên dính mắc.
Trung Bộ, Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (MN 2) — HT. Thích Minh Châu dịch
Dùng tứ vật dụng mà không quán tưởng thì như người mang nợ.
📜Kinh Sa-môn Quả (DN 2), đoạn 66 — biết đủ“…cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh…”
“Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo biết đủ? Ở đây Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ðại vương, cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Ðại vương, vị Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Như vậy, này Ðại vương, là Tỷ-kheo biết đủ.”
Trường Bộ, Kinh Sa-môn Quả (DN 2) — HT. Thích Minh Châu dịch
Giới bổn & các nhóm tội
Giới bổn Pātimokkha của Tỳ-khưu theo Luật Nam tông (Theravāda) có 227 điều, chia làm 8 nhóm; của Tỳ-khưu ni có 311 điều. Mỗi chấm dưới đây là một điều học — bấm vào từng nhóm để xem. Muốn tra nhanh duyên sự, chi phần và hình phạt của từng điều, mở trang 🔎 Tra cứu 227 điều học.
Bảy nhóm tội (āpatti) — từ nặng đến nhẹ
Giới bổn có 8 nhóm điều học, nhưng tội chỉ chia làm 7 nhóm. Cách “ra khỏi tội” tùy theo mức nặng nhẹ:
Vì sao 8 nhóm điều học mà chỉ 7 nhóm tội? 30 điều ưng xả đối trị thuộc về tội pācittiya; nhóm bất định sẽ quy về một tội cụ thể khi xét xử; pháp dàn xếp tranh tụng không phải tội. Còn thullaccaya, dukkaṭa, dubbhāsita không có điều riêng trong Giới bổn mà phát sinh từ các trường hợp được phân tích trong Luật.
227 điều trong Giới bổn, 91.805.036.000 điều học trong Tạng Luật Tỳ-khưu Hộ Pháp
227 điều là phần cốt lõi được tụng trong lễ Uposatha mỗi nửa tháng. HT. Hộ Pháp ghi theo Thanh Tịnh Đạo (phần Giới): nếu gom tất cả các điều học của Tỳ-khưu trong Tạng Luật theo cách tính rộng thì có 91.805.036.000 điều học, đều nhằm giữ gìn thân và khẩu.
Navakoṭisahassāni, asītisatakoṭiyo,
paññāsasatasahassāni, chattiṃsā ca punāpare.
Ete saṃvaravinayā, Sambuddhena pakāsitā,
peyyālamukhena niddiṭṭhā, sikkhā vinayasaṃvare.
Câu kệ nói các điều học thu thúc ấy được Đức Phật công bố theo lối tóm lược (peyyālamukhena): Tạng Luật chỉ nêu mẫu rồi lược bớt các trường hợp giống nhau; con số lớn là khi triển khai đủ mọi trường hợp.
Tên gọi các nhóm trong sách của HT. Hộ Pháp
Trang này dùng tên theo bản dịch Tạng Luật của Tỳ-khưu Indacanda. Đọc sách của HT. Hộ Pháp sẽ gặp vài tên khác; đối chiếu như sau:
| Pāli | Trang này (Indacanda) | HT. Hộ Pháp, Tam Bảo | HT. Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất Gia |
|---|---|---|---|
| pārājika | Bất cộng trú | Giới bại hoại | Bất cộng trụ |
| saṅghādisesa | Tăng tàn | Giới hành phạt | Tăng tàn |
| aniyata | Bất định | Giới bất định | Bất định |
| nissaggiya pācittiya | Ưng xả đối trị | Xả rồi sám hối | Ưng xả đối trị |
| (suddha) pācittiya | Ưng đối trị | Giới sám hối lỗi | Ưng đối trị |
| pāṭidesanīya | Ưng phát lộ | Giới sám hối riêng rẽ | giữ tên Pāli |
| sekhiya | Ưng học pháp | Giới hành | Điều học tập |
| adhikaraṇasamatha | Pháp dàn xếp tranh tụng | Pháp giảng hòa | – |
| thullaccaya | Trọng tội | – | phạm giới trọng |
Nguồn: Tỳ-khưu Hộ Pháp, Quyển I · Tam Bảo (mục “Tỳ-khưu giới”) và Gương Bậc Xuất Gia (mục “Āpatti với Tỳ khưu”).
Mở rộng: đối chiếu với Luật Tứ phần (Bắc tông)
Giới bổn Tỳ-khưu của Phật giáo Bắc tông thường theo Luật Tứ phần (Dharmaguptaka): 250 điều cho Tỳ-khưu, 348 điều cho Tỳ-khưu ni. Phần lớn giống nhau; các ô màu đỏ là chỗ khác nhau.
| Nhóm | Tỳ-khưu Nam tông | Tỳ-khưu Tứ phần | Tỳ-khưu ni Nam tông | Tỳ-khưu ni Tứ phần |
|---|---|---|---|---|
| Bất cộng trú | 4 | 4 | 8 | 8 |
| Tăng tàn | 13 | 13 | 17 | 17 |
| Bất định | 2 | 2 | – | – |
| Ưng xả đối trị | 30 | 30 | 30 | 30 |
| Ưng đối trị | 92 | 90 | 166 | 178 |
| Ưng phát lộ | 4 | 4 | 8 | 8 |
| Ưng học pháp | 75 | 100 | 75 | 100 |
| Pháp dàn xếp tranh tụng | 7 | 7 | 7 | 7 |
| Tổng cộng | 227 | 250 | 311 | 348 |
Theo bài giảng, các bộ Luật khác có: Ngũ phần 251 (380) · Tăng-kỳ 218 (290) · Thập tụng 263 (354) · Căn bản Nhất thiết hữu bộ 249 (346) — số trong ngoặc là của Tỳ-khưu ni.
Bốn tội bất cộng trú riêng của Tỳ-khưu ni (Nam tông): ⑤ với tâm ái nhiễm, để người nam có tâm ái nhiễm xúc chạm thân thể; ⑥ che giấu tội bất cộng trú của Tỳ-khưu ni khác; ⑦ đi theo vị Tỳ-khưu đã bị Tăng cử tội dù đã được can gián; ⑧ tám việc thân mật với người nam có tâm ái nhiễm (như nắm tay, hẹn hò…). Với Tỳ-khưu, hành vi xúc chạm tương tự thuộc tội Tăng tàn.
Có nên thay đổi giới luật?
Câu hỏi này được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử Phật giáo. Cách Tăng đoàn Nam tông trả lời bắt nguồn từ kỳ Kết tập lần thứ nhất.
Tạng Luật năm bộ và ba đặc tính Tỳ-khưu Hộ Pháp
Theo HT. Hộ Pháp, Tạng Luật Pāḷi có năm bộ. Các bài của trang này đi qua cả năm:
| Bộ | Nội dung chính | Học ở |
|---|---|---|
| Pārājikapāḷi | 4 điều Bất cộng trú, 13 Tăng tàn, 2 Bất định, 30 Ưng xả đối trị | Bài 2–6 |
| Pācittiyapāḷi | 92 Ưng đối trị, 4 Ưng phát lộ, 75 Ưng học pháp, 7 pháp dàn xếp tranh tụng và các điều học của Tỳ-khưu-ni | Bài 7–12 |
| Mahāvaggapāḷi (Đại Phẩm) | từ khi Đức Phật thành đạo, bài kinh Chuyển Pháp Luân, đến phép xuất gia Sa-di, Tỳ-khưu, Uposatha, an cư, các vật dụng… | Bài 13, 15, 16, 18 |
| Cūḷavaggapāḷi (Tiểu Phẩm) | nhiều pháp hành Tăng sự; lần đầu Đức Phật cho bà Mahāpajāpatī Gotamī xuất gia Tỳ-khưu-ni… | Bài 12, 14, 17 |
| Parivārapāḷi (Tập Yếu) | tóm lược, hỏi đáp về các điều học và nhiều vấn đề khác | – |
Ngài nêu ba đặc tính riêng của Tạng Luật:
- Thuyết bằng mệnh lệnh (āṇādesanā): chỉ Đức Phật chế định điều học và các Tăng sự; hàng Thánh thanh văn đệ tử không chế định một điều nào.
- Giáo huấn tùy theo lỗi (yathāparādhasāsana): có vị phạm lỗi đầu tiên, bị người đời hay chư thiên chê trách, Đức Phật mới chế điều học, nặng hay nhẹ tùy lỗi. Vị phạm lần đầu ấy không phạm điều học ấy.
- Răn dạy thu thúc thân và khẩu (saṃvarāsaṃvarakathā): giới trong sạch diệt phiền não loại thô, làm nền cho thiền định và thiền tuệ.
📘Không được sửa đổi, thêm hoặc bớtTỳ-khưu Hộ Pháp, Quyển I · Tam Bảo
“Các điều-giới, các pháp-hành tăng-sự mà Đức-Phật đã chế định và đã ban hành rồi, các hàng thanh-văn đệ-tử cần phải nên nghiêm chỉnh hành theo mà không được phép sửa đổi, thêm hoặc bớt điều nào cả.”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Quyển I · Tam Bảo, mục “Tạng Luật Pāḷi”
Những bất đồng về giới luật trong lịch sử
Đề nghị bắt buộc 5 điều khắt khe (trọn đời ở rừng, chỉ khất thực, chỉ mặc y phấn tảo, chỉ ở gốc cây, không ăn cá thịt). Đức Phật không chấp nhận bắt buộc.
Tranh cãi từ một lỗi nhỏ, dẫn đến Tăng chia làm hai phe.
Chủ trương 10 điều trái Luật, trong đó có việc nhận vàng bạc — dẫn đến Kết tập lần thứ hai.
Nêu 5 điều về phẩm hạnh A-la-hán — góp phần dẫn đến sự phân phái trong Tăng đoàn.
Kết tập lần thứ nhất: giữ nguyên các điều học
Trước khi nhập diệt, Đức Phật dạy Ngài Ānanda: sau khi Ngài diệt độ, nếu muốn, Tăng có thể bỏ các điều học nhỏ nhặt (khuddānukhuddaka). Nhưng Ngài Ānanda không hỏi đó là những điều nào. Tại kỳ Kết tập, các vị Trưởng lão nêu nhiều ý kiến khác nhau. Ngài Mahākassapa nhắc rằng có những điều học liên quan đến người tại gia, cư sĩ đều biết; nếu bỏ đi, người đời sẽ nói giới luật chỉ được giữ khi bậc Đạo Sư còn tại thế. Ngài đề nghị, và Tăng đồng thuận:
Đây là nền tảng để truyền thống Nam tông đến nay vẫn giữ nguyên 227 điều học (Tạng Luật – Tiểu phẩm, chương XI “Năm trăm vị”).
Những lý do được nêu để thay đổi
Ngày nay có ý kiến cho rằng nên thay đổi giới luật, vì:
- Nhiều điều học không còn phù hợp với sinh hoạt hiện nay.
- Đa số điều học là điều nhỏ nhặt, thuộc về dư luận.
- Có sự khác biệt rõ giữa giới của Tỳ-khưu và Tỳ-khưu ni.
- Dựa vào lời Đức Phật trước khi nhập diệt (cho bỏ các điều học nhỏ nhặt).
Từ đó có quan điểm: chỉ áp dụng trọn vẹn nhóm giới căn bản (bất cộng trú), còn các giới khác thì áp dụng tùy theo hoàn cảnh, đất nước, thời gian, và bổ sung điều luật mới.
Với những tình huống Luật chưa nói tới, Đức Phật không dạy “tự sửa luật cho hợp hoàn cảnh”, mà để lại một nguyên tắc suy xét: bốn điều tùy thuận.
Bốn điều tùy thuận (cattāro mahāpadesā)
📜Tạng Luật – Đại phẩm, chương Dược phẩm [92]“Điều nào đã được đức Thế Tôn cho phép, điều nào đã không được cho phép?”
[92] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu khởi lên sự ngần ngại về vấn đề này về vấn đề nọ: “Điều nào đã được đức Thế Tôn cho phép, điều nào đã không được cho phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
– Này các tỳ khưu, điều nào ta chưa cấm rằng: “Điều này không được phép,” và điều ấy phù hợp với điều không được phép và trái nghịch với điều được phép, đối với các ngươi điều ấy là không được phép.
Này các tỳ khưu, điều nào ta chưa cấm rằng: “Điều này không được phép,” và điều ấy phù hợp với điều được phép và trái nghịch với điều không được phép, đối với các ngươi điều ấy là được phép.
Này các tỳ khưu, điều nào ta chưa cho phép rằng: “Điều này được phép,” và điều ấy phù hợp với điều không được phép và trái nghịch với điều được phép, đối với các ngươi điều ấy là không được phép.
Này các tỳ khưu, điều nào ta chưa cho phép rằng: “Điều này được phép,” và điều ấy phù hợp với điều được phép và trái nghịch với điều không được phép, đối với các ngươi điều ấy là được phép.
Tạng Luật – Đại phẩm, chương VI Dược phẩm — Tỳ-khưu Indacanda dịch
Đặt bốn điều vào một bảng, ta thấy ngay quy luật:
Dù là “chưa cấm” hay “chưa cho phép”, điều quyết định là việc ấy tương hợp với cái gì đã có trong Luật: hợp với điều bị cấm thì không được làm; hợp với điều được phép thì được làm.
Giải thích các thuật ngữ:
Nói “chưa cấm” là nhấn mạnh rằng chưa có sự bác bỏ việc ấy là không hợp lệ.
Nói “chưa cho phép” là nhấn mạnh rằng chưa có sự chấp thuận việc ấy là hợp lệ.
Tương hợp với một loại quy định đã có trong Luật, chứ không có nghĩa là tự ý thay đổi giới luật cho phù hợp với hoàn cảnh.
Thử suy xét
Ví dụ minh họa cách suy xét theo bốn điều tùy thuận. Trong thực tế, trường hợp cụ thể cần hỏi chư Tăng thông Luật.
① Luật cho phép may y từ sáu loại vải: lanh, bông, lụa, len, gai và vải dệt pha các loại trên. Một loại vải mới không có trong danh sách, nhưng cùng tính chất giản dị như các loại ấy. Có được dùng làm y không?
② Luật cấm uống rượu và các thứ men say. Một chất gây say, gây nghiện khác — thời ấy chưa có nên chưa được nêu tên. Có được dùng không?
Ngoài ra, người tu còn giữ giới bằng lương tâm, đạo đức, và bằng sự suy xét nhân quả nghiệp báo.
Thách thức ngày nay
Bài giảng nêu một số hiện tượng đáng suy ngẫm trong đời sống tu sĩ hôm nay. Những vấn nạn này không mới — đã có từ thời Đức Phật.
Những điều học khó giữ trong thực tế
Làm cốc liêu, trú xá lớn; làm hư hỏng các gia đình.
Cất giữ y, bát, thuốc men, vật dụng quá mức cho phép.
Các điều về cách ứng xử, đạo đức.
Oai nghi, tế hạnh, cách giao tiếp hằng ngày.
Lối sống “tục hóa”
Ngay thời Đức Phật đã có người không phải Sa-môn mà tự nhận là Sa-môn, ngồi lẫn trong chúng Tăng.
📜Kinh Tăng Chi — Ngày trai giới (AN 8.20)“…không phải là Sa-môn nhưng tự nhận là Sa-môn…”
… Rồi Tôn giả Mahàmoggallàna, với tâm của mình, chú tâm tác ý đến toàn thể chúng Tỷ-kheo Tăng, Tôn giả thấy một người ấy là ác giới, theo ác pháp, sở hành bất tịnh, đáng nghi ngờ, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn nhưng tự nhận là Sa-môn, không sống Phạm hạnh nhưng tự nhận là sống Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh, đang ngồi giữa chúng Tỷ-kheo …
Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, Kinh Ngày Trai Giới (AN 8.20) — HT. Thích Minh Châu dịch
Đức Phật ví người xuất gia mà tâm còn tham, sân, ganh ghét, xảo trá… như một thanh gươm hai lưỡi sắc bén được bọc trong tấm y. Có tướng mạo người tu mà không có hạnh người tu — “mượn đạo, tạo đời”.
Việc chính của người xuất gia chỉ có một: tu tập đến giác ngộ, giải thoát. Như Đức Phật “cày” trên ruộng tâm, gặt quả bất tử; tâm thanh tịnh mới là ruộng phước cho chúng sanh gieo trồng.
Tương Ưng Bộ, Kinh Kasi (SN 7.11) — HT. Thích Minh Châu dịch
Tỳ-khưu đa sự
Điều đáng lo không nằm ở bản thân công việc, mà ở chỗ dành quá nhiều thời gian cho chúng, xao lãng Pháp học và Pháp hành. Bài giảng nêu ba nhóm:
Cầu an, cầu siêu, xem ngày giờ, phong thủy, bói toán; xây dựng chùa chiền, cây cảnh; kinh doanh ấn phẩm; tổ chức hành hương.
Tổ chức từ thiện, cô nhi viện, dưỡng lão; kinh doanh thực phẩm chay, thuốc men.
Chìm đắm vào nghệ thuật (thư pháp, thơ, nhạc, phim); nghiện game, mạng internet.
Đức Phật đã chỉ rõ những thói quen kéo người tu đi xuống:
📜Kinh Thối Đọa (AN 8.79)“Này các Tỷ-kheo, có tám pháp này đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa…”
1. – Này các Tỷ-kheo, có tám pháp này đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là tám?
2. Ưa thích công việc, ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ, ưa thích hội chúng, không phòng hộ các căn, không tiết độ trong ăn uống, ưa thích giao thiệp, ưa thích hý luận.
Này các Tỷ-kheo, tám pháp này đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa.
3. Này các Tỷ-kheo, có tám pháp này đưa Tỷ-kheo hữu học đến không thối đọa. Thế nào là tám pháp?
4. Không ưa thích công việc, không ưa thích nói chuyện, không ưa thích ngủ nghỉ, không ưa thích hội chúng, các căn được phòng hộ, tiết độ trong ăn uống, không ưa thích giao thiệp, không ưa thích hý luận.
Này các Tỷ-kheo, có tám pháp này đưa Tỷ-kheo hữu học đến không thối đọa.
Kinh Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, (IX) (79) Thối Đọa — HT. Thích Minh Châu dịch
Một ví dụ để đối chiếu: Nhật Bản
Từ thế kỷ 13, ngài Shinran mở ra Tịnh Độ Chân tông, chủ trương tu sĩ lập gia đình, chùa truyền theo lối cha truyền con nối; tu sĩ làm việc ngoài xã hội và sống bằng đồng lương. Theo bài viết của Thích Giác Quang mà bài giảng dẫn, ngày nay nhiều chùa ở Nhật sống nhờ dịch vụ mộ phần, bài vị, thậm chí kinh doanh giải trí. Đây là một truyền thống có lịch sử riêng; bài học nêu ra để thấy: khi Luật không còn là khuôn mẫu, đời sống người xuất gia có thể đổi khác đến mức nào.
Giữ gìn thanh tịnh
Làm sao giữ được đời sống phạm hạnh thanh tịnh? Kinh điển đưa ra những lời dạy rất cụ thể. Muốn thực hành được, người tu cần hiểu rõ giới luật, nghiệp báo và lợi ích của việc giữ giới.
Năm pháp nâng đỡ sự tu tập
Kinh Rừng (Tăng Chi, AN 5.98) nêu năm pháp: ít muốn ít việc, ăn ít, ít ngủ, sống trong rừng, và quán sát tâm như đã được giải thoát. Bản tương đương bên Tạp A-hàm (Kinh 801) thay pháp cuối bằng việc an trú luật nghi Pātimokkha — như năm thẻ trên.
📜Kinh Rừng — Tăng Chi (AN 5.98)“Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm cho sung mãn Niệm hơi thở vô hơi thở ra…”
—Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm cho sung mãn Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn không có nhiều, việc làm không có nhiều, nuôi sống dễ dàng, khéo tri túc với những nhu yếu ở đời; ăn uống ít, không chuyên lo về bao tử, ít thụy miên, chuyên chú vào giác tỉnh; sống ở trong rừng, sống tại các sàng tọa xa vắng; quán sát tâm như đã được giải thoát.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm cho sung mãn Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất động.
Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Phẩm Kakudha, Kinh Rừng (AN 5.98) — HT. Thích Minh Châu dịch
🔎Đối chiếu Bắc truyền Kinh Ngũ Pháp — Tạp A-hàm 801“Có năm pháp mang lại nhiều lợi ích cho sự tu An-na-ban-na niệm…”
Tôi nghe như vầy: Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có năm pháp mang lại nhiều lợi ích cho sự tu An-na-ban-na niệm. Những gì là năm? An trụ luật nghi Ba-la-đề-mộc-xoa, oai nghi hành xử đầy đủ; đối với những tội vi tế hay sanh lòng sợ hãi, thọ trì học giới. Đó gọi là pháp thứ nhất mang lại nhiều lợi ích cho sự tu An-na-ban-na niệm.
“Lại nữa, Tỳ-kheo ít muốn, ít sự việc, ít tác vụ. Đó là pháp thứ hai mang lại nhiều lợi ích cho sự tu An-na-ban-na niệm.
“Lại nữa, Tỳ-kheo nào ăn uống biết lường, không ít cũng không nhiều. Không vì việc ăn uống mà sanh ra tư tưởng ham muốn; luôn tinh cần tư duy. Đó là pháp thứ ba mang lại nhiều lợi ích cho sự tu An-na-ban-na niệm.
“Lại nữa, Tỳ-kheo đầu đêm, cuối đêm, không đắm say ngủ nghỉ, mà luôn tinh cần tư duy. Đó là pháp thứ tư mang lại nhiều lợi ích cho sự tu An-na-ban-na niệm.
“Lại nữa, Tỳ-kheo ở trong rừng hoang vắng, xa lìa những nơi náo nhiệt. Đó là pháp thứ năm mang lại nhiều lợi ích cho sự tu An-na-ban-na niệm.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Tạp A-hàm, Kinh 801 Ngũ Pháp — HT. Thích Đức Thắng & HT. Thích Tuệ Sỹ dịch
Như lửa đang cháy trên đầu
Kinh Tâm Của Mình (AN 10.51) dạy vị Tỳ-khưu tự soi tâm như soi gương. Thử tự hỏi: gần đây, tôi có hay sống với…
📜Kinh Tâm Của Mình (AN 10.51)“…Ví như khi khăn bị cháy, hay khi đầu bị cháy…”
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo quán sát như vậy, biết rằng: “Ta sống nhiều với tâm tham; ta sống nhiều với tâm sân; ta sống nhiều với tâm bị hôn trầm thụy miên chi phối; ta sống nhiều với trạo cử; ta sống nhiều với nghi ngờ; ta sống nhiều với phẫn nộ; ta sống nhiều với tâm bị nhiễm ô; ta sống nhiều với thân nhiệt nóng; ta sống nhiều với biếng nhác; ta sống nhiều với không định tĩnh”, thời Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy, hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy này Tỷ kheo, Tỷ kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận các pháp bất thiện ấy.
Kinh Tăng Chi, Chương Mười Pháp, Phẩm Tâm Của Mình, Kinh Tâm Của Mình (AN 10.51) — tương đương Kinh Trụ Pháp (Trung A-hàm, số 95)
Sống như mặt trăng
Khi đi đến các gia đình: thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không đường đột xông xáo — như người đứng nhìn xuống một cái giếng cũ, một sườn núi dốc hay một thác nước.
📜Ví Dụ Với Trăng — Tương Ưng Ca-diếp (SN 16.3)“…luôn luôn là người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo…”
1) … Trú ở Sàvatthi…
2) – Hãy giống như mặt trăng, này các Tỷ-kheo, khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo (appagabbha).
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nhìn một cái giếng cũ, hay sườn núi dốc, hay thác nước, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hãy giống như mặt trăng khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.
Kassapa, này các Tỷ-kheo, giống như mặt trăng, khi đi đến các gia đình, thân dè dặt và tâm dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.
Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Ca-diếp, III. Ví Dụ Với Trăng (SN 16.3; S.v,197) — HT. Thích Minh Châu dịch. Tương đương: Tạp 41.18 Nguyệt Dụ (Đại 2, 199a); Nguyệt Dụ Kinh (Đại 2, 544b); Biệt Tạp 6.5 (Đại 2, 444a)
🔎Đối chiếu Bắc truyền Kinh Nguyệt Dụ — Tạp A-hàm 1136“Hãy sống như mặt trăng; khi đi vào nhà người khác với tàm quý, khiêm hạ…”
Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy sống như mặt trăng; khi đi vào nhà người khác với tàm quý, khiêm hạ, kiểm thúc tâm, thúc liễm thân hình như người mới học. Như người mắt sáng khi lội vực sâu, lên đỉnh núi, kiểm thúc tâm, thúc liễm thân hình và chậm rãi tiến tới trước.
“Tỳ-kheo cũng vậy, sống như mặt trăng; khi đi vào nhà người khác với tàm quý, khiêm hạ, kiểm thúc tâm, thúc liễm thân hình như người mới học.
“Tỳ-kheo Ca-diếp sống như mặt trăng; khi đi vào nhà người khác với tàm quý, khiêm hạ không cao mạn, kiểm thúc tâm, thúc liễm thân hình như người mới học. Như người mắt sáng lội vực sâu, lên đỉnh núi chế ngự tâm, thúc liễm thân, xem xét kỹ rồi mới tiến.”
Tạp A-hàm, Kinh 1136 Nguyệt Dụ (SA 1136)
Lợi đắc, cung kính, danh vọng
Lộ trình từ giới đến định (Kinh Sa-môn Quả)
Kinh Sa-môn Quả (DN 2) vẽ ra con đường tuần tự của người xuất gia — giới luật là bước đầu tiên, không thể bỏ qua:
Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, sinh sống trong sạch. Xem đoạn 42 ở Phần 4 ↑
Không nắm giữ tướng chung, tướng riêng; hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục. Xem đoạn 64 ở Phần 4 ↑
Đi tới, đi lui, co tay, duỗi tay, ăn uống, đi đứng nằm ngồi… đều tỉnh giác.
📜DN 2, đoạn 65“Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác?…”
“Ðại vương, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác? Ðại vương, ở đây, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác.”
Bằng lòng với y che thân, đồ ăn khất thực nuôi thân — như con chim bay đâu cũng mang theo đôi cánh. Xem đoạn 66 ở Phần 4 ↑
Rừng, gốc cây, hang đá, bãi tha ma…; khất thực về, ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú chánh niệm trước mặt.
📜DN 2, đoạn 67“Vị ấy, với giới uẩn cao quý này…”
“Vị ấy, với giới uẩn cao quý này, với sự hộ trì các căn cao quý này, với chánh niệm tỉnh giác cao quý này, với hạnh biết đủ cao quý này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt.”
Tham ái, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối tiếc, nghi ngờ — lần lượt được gột rửa khỏi tâm.
📜DN 2, đoạn 68“Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời…”
“Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm, thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên; với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm, thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.”
Trường Bộ, Kinh Sa-môn Quả (DN 2) — HT. Thích Minh Châu dịch
Trên nền giới thanh tịnh, thiền định chế ngự phiền não, thiền tuệ đoạn tận phiền não.
Giữ tâm là giữ giới. Thân cận bậc trí, xa lánh kẻ ngu, chọn nơi tu chân chính và luôn giữ lý tưởng giác ngộ. Cách giữ giới tốt nhất là giữ tâm thanh tịnh với chánh niệm, định tâm và tỉnh giác.
Giới trong Bát Chánh Đạo
Tránh xa nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời vô ích.
Tránh xa sát sanh, trộm cắp, tà dâm (với người xuất gia: tránh mọi hành dâm).
Tránh các nghề trái pháp đời, pháp đạo. Với Tỳ-khưu: nuôi thân bằng sự cúng dường thanh tịnh, thiểu dục tri túc.
Pháp và Luật là Đạo Sư
Giới đức là nền tảng đạo đức căn bản của người tu theo Phật. Giới luật giúp người xuất gia an lạc trong hiện tại và vị lai, tạo niềm tin nơi Tam Bảo, giữ cho Chánh Pháp trường tồn, và là duyên lành để phát triển định và tuệ, hướng đến thoát khổ rốt ráo.
Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm
Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật
Trắc nghiệm 15 câu
✍️Bài tập Bài 1 — 76 câu, 7 dạng bàiTrắc nghiệm · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp thứ tự · Phân loạiLàm bài tập →Tài liệu tham khảo
- Thích Thiện Siêu, Cương yếu Giới luật, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, NXB. TP. HCM, 1996.
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật — Phân tích Giới Tỳ-khưu tập 1; Đại phẩm, chương VI Dược phẩm, NXB. Tôn giáo, 2005.
- Thích Tuệ Sỹ (dịch), “Kinh Hà Nghĩa”, Trung A-hàm, NXB. Hồng Đức, 2019.
- Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trường Bộ (Kinh Sa-môn Quả, Kinh Đại Bát-niết-bàn), Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh Tăng Chi Bộ, VNCPHVN.
- Kinh Tạp A-hàm (Kinh 801 Ngũ Pháp, Kinh 1136 Nguyệt Dụ).
- Buddhaghosa, Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), TN. Trí Hải dịch, NXB. Hồng Đức, 2016.
- Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương bậc xuất gia, NXB. Tôn giáo, 2002.
- Tỳ-khưu Giác Giới, Luật nghi tổng quát, NXB. Tôn giáo, 2003.
- Thích Viên Trí, Ý nghĩa Giới luật, NXB. Phương Đông.
- Thích Giác Quang, “Tại sao các nhà Sư Nhật Bản xuất gia nhưng lại lập gia đình?”, thuvienhoasen.org.
📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

