Toàn cảnh
Tăng không có người đứng đầu ra lệnh; những việc chung được quyết định bằng hành sự của Tăng (saṅghakamma): Tăng họp trong một ranh giới, một vị đọc lời đề nghị và tuyên ngôn, các vị khác im lặng là đồng ý. Truyền giới là hành sự quan trọng nhất trong số đó.
| Chủ đề | Chương (bản Indacanda) | Trong bài |
|---|---|---|
| 📣 Hành sự đúng Pháp, hợp nhất; túc số | Đại Phẩm II, Chương IX: Chương Campā (Campeyyakkhandhaka) | Phần 2, 3 |
| 🗺️ Ranh giới | Đại Phẩm I, Chương II: Chương Uposatha | Phần 4 |
| 📜 Truyền giới, nương nhờ, sa-di | Đại Phẩm I, Chương I: Chương Trọng yếu (Mahākhandhaka) | Phần 5–8 |
| 🌄 Truyền giới ở biên địa | Đại Phẩm I, Chương V: Chương Da thú | Phần 6 |
Các bài trước đã gặp nhiều hành sự của Tăng: bảy pháp dàn xếp (Bài 12), chỉ định khu vực được phép (Bài 13), giao công trình mới, chỉ định vị phân phối chỗ ở (Bài 14). Bài này học các quy tắc chung của mọi hành sự.
Mỗi thẻ trích nguyên văn Tạng Luật bản Việt của Tỳ-khưu Indacanda, kèm bản Pāli Mahāsaṅgīti (SuttaCentral); phần bình giải theo The Buddhist Monastic Code II (Ṭhānissaro Bhikkhu), các chương Community Transactions, Territories, Ordination. Indacanda dịch sīmā là “ranh giới”; tên bài giữ chữ quen dùng “cương giới”.
Bốn cách hành sự · đúng Pháp và hợp nhất
| Hợp nhất | Phe nhóm | |
|---|---|---|
| Đúng Pháp | ✓ không thể sửa đổi, đáng được duy trì | ✗ có thể sửa đổi |
| Sai Pháp | ✗ có thể sửa đổi | ✗ có thể sửa đổi |
Túc số, sự tùy thuận và sự phản đối
Ranh giới (cương giới)
Hợp nhất nghĩa là mọi vị trong cùng một ranh giới đều tham dự. Vì vậy ranh giới phải được xác định rõ.
- Ngọn núi (pabbatanimitta)
- Tảng đá (pāsāṇanimitta)
- Khu rừng (vananimitta)
- Cội cây (rukkhanimitta)
- Đường đi (magganimitta)
- Gò mối (vammikanimitta)
- Con sông (nadīnimitta)
- Vũng nước (udakanimitta)
🗺️ Học kỹ cách kết giới cho một ngôi chùa (tám loại điểm mốc, từng bước nghi thức, các lỗi làm ranh giới không thành) ở Bài 18: Kết giới Sīmā.
Ba cách truyền giới trong lịch sử
Tám cách thọ cụ túc theo Chú giải Tỳ-khưu Hộ Pháp
Thẻ trên theo Tạng Luật kể ba cách truyền giới cho Tỳ-khưu. HT. Hộ Pháp (Gương Bậc Xuất Gia) theo Chú giải kể đủ tám cách thọ cụ túc (upasampadā): năm cho Tỳ-khưu, ba cho Tỳ-khưu-ni. Nhiều cách chỉ xảy ra một lần.
| # | Pāli | Cách thọ | Ai |
|---|---|---|---|
| 1 | Ehibhikkhūpasampadā | Đức Phật gọi “Ehi bhikkhu” | Ngài Aññāsi Koṇḍañña là vị đầu tiên; chỉ Đức Phật cho thọ được cách này |
| 2 | Saraṇagamanūpasampadā | thọ Tam quy | chư Thánh Tăng đi hoằng pháp; sau bị bỏ, nay chỉ dùng để thọ Sa-di |
| 3 | Ovādapaṭiggahaṇūpasampadā | thọ nhận lời giáo huấn | riêng Ngài Mahākassapa: ba lời dạy về hổ thẹn, ghê sợ tội lỗi; lắng nghe chánh pháp; niệm thân |
| 4 | Pañhābyākaraṇūpasampadā | trả lời đúng câu hỏi | riêng Sa-di Sopāka bảy tuổi, trả lời câu hỏi về tưởng bất tịnh |
| 5 | Ñatticatutthakammūpasampadā | một lần tuyên ngôn, ba lần thành sự ngôn | bắt đầu từ Ngài Rādha; còn dùng đến ngày nay |
| 6 | Garudhammapaṭiggahaṇūpasampadā | thọ nhận tám trọng pháp | riêng bà Mahāpajāpatī Gotamī (tám trọng pháp: Bài 8) |
| 7 | Dūtenūpasampadā | nhờ người đại diện | riêng cô Aḍḍhakāsī, vì nguy hiểm trên đường đi |
| 8 | Aṭṭhavācikūpasampadā | tám lần tụng: giữa Tăng Tỳ-khưu-ni, rồi giữa Tăng Tỳ-khưu | cách chung cho các Tỳ-khưu-ni |
Theo HT. Hộ Pháp, Đức Phật cho thọ bằng cách gọi “Ehi bhikkhu” tất cả 28.647 vị: 1.344 vị kể trong Tạng Luật và 27.303 vị kể trong Tạng Kinh. Ngày nay các nước Nam tông đều truyền Sa-di bằng Tam quy và truyền Tỳ-khưu bằng một lần tuyên ngôn, ba lần thành sự ngôn, tụng bằng tiếng Pāḷi.
Chữ “bhikkhu” nghĩa là gì?
Phần phân tích từ ngữ của điều Bất cộng trú thứ nhất kể nhiều nghĩa:
“‘Vị đi khất thực’ là tỳ khưu. ‘Vị chấp nhận việc đi khất thực’ là tỳ khưu. ‘Vị mặc y đã được cắt rời’ là tỳ khưu.”
“…‘Vị đã được tu lên bậc trên với hội chúng hợp nhất bằng hành sự có lời thông báo đến lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì’ là tỳ khưu.”
Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Pārājika 1 — Tỳ-khưu Indacanda dịchĐiều học dùng nghĩa sau cùng ấy. HT. Hộ Pháp gom lại thành ba cách hiểu Tỳ-khưu Hộ Pháp
| Theo | Nghĩa |
|---|---|
| Văn phạm Pāḷi | Bhikkhati sīlenā’ti bhikkhu: bậc có thói quen đi khất thực để nuôi mạng. Saṃsāre bhayaṃ ikkhatī’ti bhikkhu: bậc thấy rõ sự tai họa trong vòng tử sanh luân hồi. |
| Tạng Kinh | Chú giải kinh Đại Niệm Xứ: hành giả tiến hành Tứ niệm xứ, “dầu là chư thiên hoặc nhân loại đều xem là Tỳ khưu cả thảy”. |
| Tạng Luật | người được chư Tăng hội họp nâng lên bậc cao bằng hành sự một lần tuyên ngôn, ba lần thành sự ngôn. |
Người xin tu và nghi thức
Thứ tự một lễ truyền giới (theo BMC)
- Cạo tóc, đắp y; quy y Tam bảo, thọ mười giới sa-di (xuất gia).
- Xin một vị làm thầy tế độ; được chỉ cho biết y bát.
- Được dạy riêng ở một góc, rồi được hỏi các pháp chướng ngại giữa Tăng.
- Xin tu lên bậc trên trước Tăng (đủ túc số, trong ranh giới).
- Một vị đọc lời đề nghị và ba lần tuyên ngôn; Tăng im lặng là đồng ý.
- Ghi thời điểm, mùa; dạy bốn nương tựa và bốn điều không nên làm.
Mười một hạng người không được tu lên bậc trên Tạng Luật
Chương Trọng yếu kể mười một hạng. Với mỗi hạng, Đức Phật dạy cùng một câu, ví dụ:
“Này các tỳ khưu, kẻ giết mẹ chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.”
Đại Phẩm I, Chương Trọng yếu — Tỳ-khưu Indacanda dịch- Kẻ vô căn (paṇḍaka)
- Kẻ trộm tướng mạo tỳ khưu (theyyasaṃvāsaka): tự mặc y sống chung với các Tỳ-khưu
- Kẻ đã đi theo ngoại đạo (titthiyapakkantaka)
- Loài thú (tiracchānagata): như con rồng hóa thành người để xuất gia
- Kẻ giết mẹ (mātughātaka)
- Kẻ giết cha (pitughātaka)
- Kẻ giết A-la-hán (arahantaghātaka)
- Kẻ làm nhơ tỳ khưu ni (bhikkhunīdūsaka)
- Kẻ làm chia rẽ hội chúng (saṅghabhedaka)
- Kẻ làm chảy máu đức Phật (lohituppādaka)
- Người lưỡng căn (ubhatobyañjanaka)
HT. Hộ Pháp ghi mười một hạng này cũng không được thọ Sa-di. Khi xét người xin tu (vatthu), Ngài kể thành mười ba hạng: thêm người trước kia đã phạm Bất cộng trú, và người chưa đủ hai mươi tuổi.
Năm chi thành tựu một vị Tỳ-khưu Tỳ-khưu Hộ Pháp
Theo HT. Hộ Pháp (dẫn Chú giải Tiểu Phẩm), lễ truyền giới chỉ thành khi đủ năm chi. Thiếu một chi là hư (vipatti):
| Chi | Đủ (sampatti) | Hư (vipatti) |
|---|---|---|
| Người xin tu vatthu | đủ 20 tuổi tính từ khi thọ thai, không thuộc 13 hạng có lỗi | chưa đủ tuổi, hoặc thuộc một hạng có lỗi |
| Lời đề nghị ñatti | tụng đúng từng nguyên âm, phụ âm, từng chữ theo văn phạm Pāḷi | tụng sai |
| Lời tuyên ngôn anussāvana | ba lần tuyên ngôn tụng đúng như trên | tụng sai |
| Ranh giới sīmā | ranh giới đúng Luật (Bài 18) | ranh giới hư (Chú giải Kaṅkhāvitaraṇī kể 11 trường hợp) |
| Hội chúng purisa | ít nhất 10 vị Tỳ-khưu thật ở trung xứ, 5 vị ở biên địa (Phần 3) | thiếu số; hoặc đông nhưng trong đó không đủ số Tỳ-khưu thật |
“Nếu trường hợp người giới tử thiếu một chi pháp nào, dầu là một chi tiết nhỏ, buổi lễ thọ Tỳ khưu không thành tựu, giới tử ấy không trở thành Tỳ khưu, nếu tự nhận là Tỳ khưu thì chỉ là giả danh Tỳ khưu.”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaTụng lời đề nghị và tuyên ngôn cho đúng Tỳ-khưu Hộ Pháp
Vị luật sư tụng phải đúng nơi phát âm (ṭhāna), nhân phát âm (karaṇa) và sự cố gắng phát âm (payatana). Chú giải Parivāra kể mười cách nhận biết âm (byañjanabuddhi):
| Pāli | Là | Ví dụ |
|---|---|---|
| sithila | phụ âm thứ nhất, thứ ba mỗi nhóm, đọc giọng yếu | ka ga ca ja ṭa ḍa ta da pa ba |
| dhanita | phụ âm thứ nhì, thứ tư mỗi nhóm, đọc giọng mạnh (bật hơi) | kha gha cha jha ṭha ḍha tha dha pha bha |
| dīgha / rassa | nguyên âm dài / ngắn | ā ī ū e o / a i u |
| garuka / lahuka | âm nặng / nhẹ | nak-khamati / na-khamati |
| niggahita | âm ṃ, đọc qua mũi | Buddhaṃ, Dhammaṃ, Saṃghaṃ |
| sambandha / vavatthita | đọc nối liền / đọc tách rời | yassāyasmato / yassa āyasmato |
| vimutta | mở miệng đọc rõ, không cho hơi lên mũi | su-ṇā-tu |
Lỗi nào làm hư hành sự? Theo Kaṅkhāvitaraṇī-ṭīkā (HT. Hộ Pháp dẫn), chỉ bốn lỗi làm hư: đọc sithila thành dhanita, dhanita thành sithila, vimutta thành niggahita, niggahita thành vimutta. Sáu loại còn lại đọc sai thì hành sự vẫn thành, chỉ gọi là “tụng không hay” (duruttaṃ karoti).
Truyền giới cho hai, ba vị cùng lúc Tạng Luật
Có lần nhiều người cùng xin tu lên bậc trên tranh nhau: “Tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên, tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên.”
Đức Phật dạy:
“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hai hoặc ba (người) trong một lần tuyên ngôn. Và điều ấy là với cùng một thầy tế độ chứ không phải với thầy tế độ khác nhau.”
Đại Phẩm I, Chương Trọng yếu — Tỳ-khưu Indacanda dịchHT. Hộ Pháp ghi thêm: khi ấy xếp vị lớn tuổi đời trước; tên vị nào được tụng trước thì vị ấy là vị lớn hạ hơn (Bài 14).
Daḷhīkamma: tụng lại cho vững chắc Tỳ-khưu Hộ Pháp
Nếu sau lễ, vị tân Tỳ-khưu còn nghi lời tuyên ngôn trước có thể bị đọc sai, có thể thỉnh chư Tăng tụng lại một lần tuyên ngôn và ba lần thành sự ngôn. Chú giải Parivāra:
“Nếu Tăng sự bị hư do bởi đọc sai nguyên âm, phụ âm, hoặc bị hư do bởi đọc sai chữ, hoặc hư do tụng không rõ; để làm cho trong sạch Tăng sự ấy, thì nên tụng đi, tụng lại nhiều lần. Sự tụng nhiều lần này, Tăng sự thêm vững chắc đối với Tăng sự trước kia không bị hư; hoặc thành tựu Tăng sự, mà trước kia bị hư.”
Chú giải Parivāra, Kammavaggavaṇṇanā — Tỳ-khưu Hộ Pháp dịch, Gương Bậc Xuất Gia- Daḷhīkamma không phải là lễ truyền giới mới: không hỏi y bát, không hỏi các pháp chướng ngại, không dạy lại bốn nương tựa và bốn điều không nên làm.
- Ở Myanmar, lời tuyên ngôn trong lễ truyền giới thường được tụng ba lần, mỗi lần ba vị luật sư; chỉ cần một lần đúng là giới tử thành Tỳ-khưu, các lần kia làm cho thêm vững chắc.
Sau lễ truyền giới
Sa-di · thử phán xét
Mười điều khiến sa-di bị trục xuất Tạng Luật
Duyên sự: sa-di Kaṇṭaka của đại đức Upananda đã làm nhơ tỳ-khưu-ni Kaṇṭakī. Đức Phật dạy:
“Này các tỳ khưu, ta cho phép trục xuất sa di có mười yếu tố này: Là kẻ giết hại mạng sống, là kẻ lấy vật không được cho, là kẻ phi Phạm hạnh (hành dâm), là kẻ nói dối, là kẻ uống chất say, là kẻ phỉ báng đức Phật, phỉ báng Giáo Pháp, phỉ báng Hội Chúng, là kẻ có tri kiến sai trái, là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni.”
Đại Phẩm I, Chương Trọng yếu — Tỳ-khưu Indacanda dịchCó thể làm lại từ đầu. Theo HT. Hộ Pháp (Gương Bậc Xuất Gia, “10 pháp hoại của Sa di”), sa-di cố ý phạm một trong mười điều này thì “bị đứt Tam quy và vị Thầy Tế độ”
; muốn trở lại, vị ấy “nên đến đảnh lễ vị Đại Đức Thầy Tế độ sám hối và xin thọ phép Tam quy trở lại”
. Thọ Tam quy đúng xong thì trở thành Sa-di mới.
Hình phạt cho sa-di Tạng Luật
Khi các sa-di sống không tôn kính, không vâng lời các Tỳ-khưu, Đức Phật dạy:
“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực thi hình phạt đối với vị sa di có năm yếu tố: Là vị ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi lộc, ra sức làm cho các tỳ khưu không được sự lợi ích, ra sức làm cho các tỳ khưu không có chỗ ngụ, mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu, chia rẽ các tỳ khưu (này) với các tỳ khưu (khác).”
Đại Phẩm I, Chương Trọng yếu — Tỳ-khưu Indacanda dịch- Hình phạt là sự ngăn cấm:
“…ta cho phép thực hiện sự ngăn cấm ở chỗ (tỳ khưu) sinh sống hoặc ở chỗ (tỳ khưu) lui tới.”
Không được ngăn cấm toàn bộ tu viện. - Không được cắt phần ăn:
“…không nên thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng, vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
- Phải hỏi thầy tế độ trước:
“…chưa hỏi các vị thầy tế độ không nên thực hiện sự ngăn cấm; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
HT. Hộ Pháp ghi “10 pháp hành phạt”: năm yếu tố trên cộng năm điều học từ 6 đến 10 (ăn phi thời, xem múa hát, trang điểm, chỗ nằm ngồi cao rộng, nhận vàng bạc). Bản Tạng Luật của Tỳ-khưu Indacanda chỉ ghi năm yếu tố trên. Ngài dạy hành phạt với tâm từ bi, “Cách hành phạt như múc nước, quét dọn xung quanh chùa”
, vì “Sự hành phạt chỉ là sự răn dạy để Sa di trở thành người thiện.”
Sa-di cũng học 75 điều Ưng học pháp và 14 phận sự (Bài 14). Về tuổi, Ngài ghi Sa-di thường từ 7 đến 19 tuổi; Tạng Luật đòi đủ 15 tuổi, hoặc nhỏ hơn mà đủ sức đuổi quạ (thẻ trên).
⚖️ Thử phán xét — 10 tình huống
Hành sự hay lễ truyền giới này có đứng vững, có đúng Luật không? Các tình huống dựa trên Tạng Luật và BMC; trong thực tế, xin hỏi chư Tăng thông Luật.
Hợp nhất đúng Pháp
Sau khi giảng bốn loại hành sự cho Tỳ-khưu Kassapagotta và chư Tăng, đức Phật kết luận:
“Này các tỳ khưu, do đó ở đây chúng ta sẽ thực hiện hành sự như thế, tức là ‘có sự hợp nhất đúng Pháp.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nên học tập theo đúng như thế.”
Ranh giới giữ cho Tăng hợp nhất, túc số và lời tuyên ngôn giữ cho hành sự đúng Pháp, và nhờ vậy dòng truyền giới được nối tiếp đến ngày nay. Bài sau học các sinh hoạt định kỳ của Tăng trong ranh giới ấy: Uposatha, An cư, Tự tứ, Kathina.
Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm
Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật
Trắc nghiệm 15 câu
✍️Bài tập Bài 15 — 67 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →Tài liệu tham khảo
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Đại Phẩm I (Chương I: Trọng yếu; Chương II: Uposatha; Chương V: Da thú), Đại Phẩm II (Chương IX: Campā), Tiểu Phẩm I (Chương IV: Dàn xếp), tamtangpaliviet.net.
- Ṭhānissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code II, các chương Community Transactions, Territories, Ordination, dhammatalks.org — phần bình giải.
- Bản Pāli Mahāsaṅgīti các Thiên (Mahāvagga, Cullavagga), SuttaCentral.
📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

