Toàn cảnh
Bài 3 đã học năm điều Tăng tàn đầu, đều liên quan đến dục, và cách xuất tội: biệt trú, tự hối, giải tội (xem lại). Tám điều còn lại cùng một hình phạt ấy, nhưng nội dung chuyển sang đời sống chung của Tăng: chỗ ở, lời nói về nhau, sự hòa hợp, việc nghe lời dạy bảo, và mối quan hệ với các gia đình thí chủ.
| Điều | Nội dung | Khi nào phạm | Phần |
|---|---|---|---|
| 6–7 | Làm cốc liêu do tự xin; làm trú xá lớn có thí chủ, không đúng quy định | Ngay khi làm xong | Phần 2 |
| 8–9 | Vu khống một vị Tỳ-khưu phạm pārājika | Ngay khi buộc tội | Phần 3 |
| 10–11 | Ra sức chia rẽ Tăng; ủng hộ vị chia rẽ | Sau lần khuyến cáo thứ ba mà không bỏ | Phần 4 |
| 12 | Khó dạy, không chịu nghe lời khuyên đúng Pháp | Phần 5 | |
| 13 | Làm hư hỏng các gia đình, bị bảo rời đi lại chống đối | Phần 6 |
Với điều 10–13, việc làm sai chưa thành Tăng tàn. Tăng phải khuyến cáo, và chỉ khi vị ấy vẫn không bỏ sau lần tuyên ngôn thứ ba của hành sự khuyến cáo thì mới phạm. Luật để ngỏ cơ hội sửa mình đến phút cuối.
“Không xác định”: hai điều này không quy định một tội cố định mà chỉ cách xét xử. Một vị bị tố cáo khi ngồi riêng với người nữ có thể đã phạm pārājika, Tăng tàn hay pācittiya; Tăng phải xét và xử theo điều vị ấy thú nhận.
Cách học mỗi điều trong bài này
Khác với năm điều đầu, Tạng Luật không ghi chuyện dẫn giải (vụ việc được phán) cho tám điều này; thay vào đó, phần phân tích rất chi tiết về cách xác định khu đất, các loại chứng cứ, và thủ tục khuyến cáo. Phần chính trích nguyên văn Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, bản Việt của Tỳ-khưu Indacanda (nhãn Tạng Luật); phần bình giải theo The Buddhist Monastic Code I của Ṭhānissaro Bhikkhu, chương 5 và 6 (nhãn Bình giải · BMC); giải nghĩa từng chữ Pāli theo Bhikkhu Ñāṇatusita.
Làm cốc liêu · làm trú xá lớn Kuṭikāra · Vihārakāra
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
| saññācikāya | bằng những thứ tự mình đi xinsaṃ (dạng rút gọn của sayaṃ: tự mình) + yācikā (sự xin, từ yācati); công cụ cách |
| kuṭiṃ kārayamānena | (vị) đang cho làm một cốc liêukuṭi: cốc, chòi; kārayamāna: hiện tại phân từ của kāreti (cho làm, sai khiến cách của karoti) |
| assāmikaṃ · sassāmikaṃ | không có chủ (thí chủ) · có chủa- (không) / sa- (có) + sāmika (chủ, người bảo trợ) |
| attuddesaṃ | được chỉ định cho chính mìnhattā (tự thân) + uddesa (sự chỉ định) |
| pamāṇikā kāretabbā | phải được làm đúng kích thướcpamāṇa (kích thước chuẩn) + -ika; kāretabbā: phân từ tương lai bị động |
| dvādasa vidatthiyo sugatavidatthiyā | mười hai gang theo gang của đức Thiện Thệvidatthi: một gang (= 12 lóng tay); sugata: “bậc khéo đi”, danh hiệu của Đức Phật |
| tiriyaṃ sattantarā | chiều ngang bảy (gang) bên trongtiriyaṃ: theo chiều ngang; satta (bảy) + antarā (bên trong) |
| bhikkhū abhinetabbā vatthudesanāya | phải đưa các Tỳ-khưu đến để chỉ định khu đấtvatthu (khu đất) + desanā (sự chỉ định, từ deseti) |
| anārambhaṃ saparikkamanaṃ | không gây hại (cho chúng sinh), có khoảng trống chung quanhan + ārambha (sự làm hại); sa + parikkamana (chỗ đi quanh) |
| mahallakaṃ vihāraṃ | trú xá lớn (điều 7)mahallaka: lớn; vihāra: chỗ ở |
Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.
Duyên sự điều 6 Tạng Luật
Các vị tự xin vật liệu để cất cốc cho mình, không theo kích thước nào, cốc mãi không xong. Các vị ấy xin liên tục: “Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, hãy bố thí bò, hãy bố thí xe kéo, hãy bố thí rìu, … hãy bố thí đất sét.”
Dân chúng thấy Tỳ-khưu thì tránh, đóng cửa, “ngay cả khi thấy con bò cái họ cũng tránh đi, (lầm) tưởng là các vị tỳ khưu.”
Ngài Mahākassapa đến Āḷavi, đi khất thực cũng bị người ta tránh. Ngài hỏi các Tỳ-khưu vì sao một nơi xưa kia “vật thực dồi dào, đồ khất thực nhận được mau chóng” nay lại khó khăn như vậy, rồi trình lên Đức Phật.
Đức Phật kể chuyện rồng chúa Maṇikaṇṭha bỏ đi khi vị ẩn sĩ cứ xin viên ngọc trên cổ; chuyện bầy chim bỏ khu rừng khi một vị Tỳ-khưu xin mỗi con một chiếc lông; và chuyện Raṭṭhapāla không xin cả cha mình. Ngài kết luận:
“…bởi vì việc van xin còn không được hoan hỷ, việc yêu cầu còn không được hoan hỷ đối với những chúng sanh là các loài thú ấy, thì sẽ là điều gì đối với loài người?”
Dầu mong được vật yêu quý của người, chớ van xin vật ấy.Do cầu xin quá đáng trở thành bị ghét bỏ.Con rồng bị người Bà-la-môn cầu xin ngọc ma-nikhông còn xuất hiện nữa, bởi rồng đã hiểu được điều ấy.
Kẻ xin không được ưa thích,kẻ không cho khi được xin cũng không được ưa thích;chính vì lý do ấy tôi không cầu xin ông, chớ có ghét bỏ tôi.
Duyên sự điều 7 Tạng Luật
Ở Kosambī, một gia chủ muốn xây trú xá cho đại đức Channa (theo dịch giả, đây là người đánh xe hầu cận thái tử Siddhattha). Khi dọn khu đất, Channa cho đốn một cội cây được cả vùng tôn kính. Dân chúng chê trách: “Các Sa-môn Thích tử làm hại cuộc sống của loài có một giác quan?”
Đức Phật khiển trách: “Này kẻ rồ dại, bởi vì có những chúng sanh có tâm thức là các hạng người ở trên cây cối.”
Phân tích từ ngữ Tạng Luật
- Tự xin (vật liệu)saññācikā
- “…sau khi tự mình yêu cầu người nam, nhân công, bò, xe kéo, rìu, búa, cuốc, xẻng, lưỡi đục, … cỏ tiṇa, đất sét.”
- Cốc liêukuṭi
- “…được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.”
- Không có thí chủassāmika
- “…không có người nào khác là sở hữu chủ: hoặc là người nữ, hoặc người nam, hoặc người tại gia, hoặc vị xuất gia.”
- Trong khi cho xây dựngkārayamāna
- “…là đang làm hoặc đang bảo người làm.”
- Dành cho bản thânattuddesa
- “…vì nhu cầu của bản thân.”
- Kích thướcpamāṇa
- “…chiều dài mười hai gang theo gang tay của đức Thiện thệ: theo cách đo ở bên ngoài. Chiều ngang bảy gang ở bên trong: theo cách đo ở bên trong.”
- Có điều chướng ngạisārambha
- “…có tổ kiến, hoặc là có tổ mối, hoặc là có ổ chuột, hoặc là có ổ rắn, hoặc là có ổ bọ cạp, … hoặc là chỗ ở của bất cứ các loài thú hoặc các loài sinh vật nào, hoặc kề cận ruộng trồng thóc lúa…” Xem đủ 30 trường hợp ↓
- Có lối đi vòng quanhsaparikkamana
- “…có thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (có thể) đi vòng xung quanh với cái thang.”
- Không có lối đi vòng quanhaparikkamana
- “…không thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (không thể) đi vòng xung quanh với cái thang.”
- Không dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất, hoặc vượt quá kích thước
- “…hoặc là sau khi không cho xác định khu đất làm cốc liêu bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ nhì, hoặc là sau khi vượt quá chiều dài hoặc chiều rộng cho dù chỉ bằng sợi tóc rồi (tự) làm hay bảo người làm…”
- Trú xá lớn (điều 7)mahallaka vihāra
- “Trú xá lớn nghĩa là có thí chủ được đề cập đến.”
“Có điều chướng ngại” gồm những gì? Đủ 30 trường hợp Tạng Luật
Tạng Luật kể ra ba loại. Chỉ cần một điều có mặt thì khu đất là “có điều chướng ngại”:
- kiến
- mối
- chuột
- rắn
- bọ cạp
- rết
- voi
- ngựa
- sư tử
- cọp
- beo
- gấu
- chó sói
- bất cứ các loài thú hoặc các loài sinh vật nào
- ruộng trồng thóc lúa
- ruộng trồng rau cải
- nơi tra trấn
- nơi xử trảm
- mộ địa
- vườn hoa
- đất của đức vua
- chuồng voi
- chuồng ngựa
- trại giam
- quán rượu
- nhà đồ tể
- đường vận chuyển
- giao lộ
- nơi hội họp
- chỗ qua lại
BMC: theo Chú giải, không làm cốc trên tổ của các loài nhỏ là vì lòng bi mẫn, để khỏi phá tổ của chúng; chỗ ở của thú dữ gồm cả vùng chúng thường kiếm ăn. Những nơi “kề cận” là chỗ làm mất sự yên tĩnh của vị Tỳ-khưu. Còn “lối đi vòng quanh”, theo Phụ chú giải, là để cốc không dựng sát bờ vực hay vách đá; không phải chặt hết cây chung quanh.
Thủ tục xin Tăng xác định khu đất Tạng Luật
Câu “nên dẫn các tỳ khưu đến để xác định khu đất” được Tạng Luật giải thích thành sáu bước:
Vị làm cốc “nên dọn sạch khu đất làm cốc liêu”
. BMC: dọn bụi rậm để thấy rõ có tổ mối, tổ kiến hay không; cây cần đốn thì đợi Tăng chấp thuận rồi mới đốn, và nhớ giữ Ưng đối trị 10, 11.
Đến giữa Tăng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ các vị trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay: “Bạch các ngài, tôi có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu.”
Cả Tăng đi được thì cả Tăng đi. Nếu không, Tăng chỉ định các vị “có kinh nghiệm, đủ năng lực để biết được có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có lối đi vòng quanh hay không có lối đi vòng quanh”
, bằng hành sự gồm lời đề nghị và một lời tuyên ngôn.
Có chướng ngại và không có lối đi thì nói: “Chớ làm ở đây.”
Nếu ổn thì báo với Tăng: “Không có điều chướng ngại và có lối đi vòng quanh.”
“Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu.”
Một vị có kinh nghiệm đọc lời đề nghị và một lời tuyên ngôn; Tăng im lặng là đồng ý. Xong hành sự này mới bắt đầu xây. Điều 7 (trú xá lớn) làm y như vậy, chỉ đổi lời thành “làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân”.
👥Hành sự chỉ định vị xem xét khu đất (bước 3)Nguyên văn · Indacanda dịch, kèm Pāli
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu. Hội chúng chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên. Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṃ itthannāmo bhikkhu saññācikāya kuṭiṃ kattukāmo assāmikaṃ attuddesaṃ. So saṅghaṃ kuṭivatthuolokanaṃ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho itthannāmañca itthannāmañca bhikkhū sammanneyya itthannāmassa bhikkhuno kuṭivatthuṃ oloketuṃ. Esā ñatti. Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṃ itthannāmo bhikkhu saññācikāya kuṭiṃ kattukāmo assāmikaṃ attuddesaṃ. So saṅghaṃ kuṭivatthuolokanaṃ yācati. Saṅgho itthannāmañca itthannāmañca bhikkhū sammannati itthannāmassa bhikkhuno kuṭivatthuṃ oloketuṃ. Yassāyasmato khamati itthannāmassa ca itthannāmassa ca bhikkhūnaṃ sammuti itthannāmassa bhikkhuno kuṭivatthuṃ oloketuṃ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya. Sammatā saṅghena itthannāmo ca itthannāmo ca bhikkhū itthannāmassa bhikkhuno kuṭivatthuṃ oloketuṃ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṃ dhārayāmi.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, điều Tăng tàn 6
📍Hành sự xác định khu đất (bước 6)Nguyên văn · Indacanda dịch, kèm Pāli
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu. Hội chúng xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên. Khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng xác định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṃ itthannāmo bhikkhu saññācikāya kuṭiṃ kattukāmo assāmikaṃ attuddesaṃ. So saṅghaṃ kuṭivatthudesanaṃ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno kuṭivatthuṃ deseyya. Esā ñatti. Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṃ itthannāmo bhikkhu saññācikāya kuṭiṃ kattukāmo assāmikaṃ attuddesaṃ. So saṅghaṃ kuṭivatthudesanaṃ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno kuṭivatthuṃ deseti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno kuṭivatthussa desanā, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya. Desitaṃ saṅghena itthannāmassa bhikkhuno kuṭivatthu. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṃ dhārayāmi.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, điều Tăng tàn 6
Hai điều học, so sánh
| Điều 6 · Cốc liêu | Điều 7 · Trú xá lớn | |
|---|---|---|
| Vật liệu | Tự mình đi xin, không có thí chủ | Có thí chủ (người nam, nữ, tại gia hay xuất gia) |
| Dành cho | Chính vị ấy ở | |
| Kích thước | Không quá 12 × 7 gang Thiện Thệ | Không giới hạn |
| Xin Tăng xác định khu đất | Bắt buộc: Tăng cử vị có kinh nghiệm đến xem, rồi chỉ định bằng hành sự | |
| Khu đất | Không có chướng ngại (không làm hại chúng sinh), có lối đi vòng quanh | |
Tội tăng dần theo từng thao tác Tạng Luật
“…rồi (tự) làm hay bảo người làm thì tội dukkaṭa cho mỗi thao tác.”
“Khi còn chưa đến cục (vữa tô) cuối cùng thì phạm tội thullaccaya.”
“Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào thì phạm tội saṅghādisesa.”
Cốc chưa xong thì chưa thành tội Tăng tàn. Vì vậy khi trở về thấy cốc còn dở, vị ấy còn kịp cho người khác hoặc phá đi làm lại (đoạn 32–37 bên dưới). Điều 7 tính y như vậy.
Cách tính tội: mỗi điều sai là một tội Tạng Luật
Điều học có bốn đòi hỏi. Bỏ qua đòi hỏi nào là một tội riêng, các tội cộng lại:
“Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.”
“Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.”
“Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.”
“Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa.”
Sai cả bốn: “Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa.”
Đoạn 1 · Indacanda dịchVì sao khu đất có chướng ngại chỉ là dukkaṭa? (BMC) Câu điều học nghe như mọi điều sai đều là Tăng tàn, nhưng phần phân tích chỉ tính saṅghādisesa cho hai điều: không xin Tăng xác định và vượt kích thước. Khi Tăng đã xác định mà khu đất vẫn có chướng ngại hay thiếu lối đi, đó là hành sự của Tăng làm chưa chu đáo, mà tội thường lệ cho việc ấy là dukkaṭa; Tạng Luật không phạt nặng vị đã theo đúng thủ tục.
Lưu ý khi đọc bản dịch Việt. Trường hợp vừa không xin Tăng xác định vừa vượt kích thước, mà khu đất chỉ sai thêm một điều (có chướng ngại, hoặc thiếu lối đi), bản Indacanda ghi “hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa” (đoạn 1, 6, 36) hoặc “hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa” (đoạn 12). Bản Pāli in kèm trong chính sách ấy ghi āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa, đúng với cách tính trên; bản dịch Anh của Bhikkhu Brahmali (SuttaCentral) cũng hiểu như vậy. Trang này tính theo bản Pāli; các ô có dấu ⚠ bên dưới là những chỗ này.
Thử tính tội
Chọn điều học, ai làm và tình trạng của cốc. Kết quả cho biết tội và chỉ đúng đoạn trong Tạng Luật để đối chiếu.
Đủ 39 đoạn phân tích điều 6 Tạng Luật
Tạng Luật đánh số các trường hợp của điều 6 từ 1 đến 39. Bấm vào từng đoạn để xem tội của từng trường hợp và nguyên văn bản dịch.
tự làm Tự mình làm (đoạn 1). Tạng Luật đi qua sáu cách sai về khu đất và kích thước, mỗi cách với bốn tình trạng chướng ngại và lối đi: tất cả 24 trường hợp. Mỗi điều sai là một tội, các tội cộng lại.
1Tự mình làm: đủ 24 trường hợptự làm
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa⚠
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa⚠
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa ×2
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
- Đất chưa xác định, lại vượt kích thước · có chướng ngại · có lối đi: bản Việt “…thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa”; bản Pāli āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa.
- Đất chưa xác định, lại vượt kích thước · không chướng ngại · không lối đi: bản Việt “…thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa”; bản Pāli āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa.
Nguyên văn đoạn 1
Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội. Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, không có điều chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, không có điều chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
bảo làm Bảo người làm: “Hãy làm cốc cho tôi” (đoạn 2–7). Vị ấy chịu đúng các tội như tự mình làm.
2Khu đất chưa được Tăng xác địnhbảo làm
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì (vị ấy) phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
3Khu đất đã được xác địnhbảo làm
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì (vị ấy) phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
4Vượt quá kích thướcbảo làm
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
5Đúng kích thướcbảo làm
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
6Đất chưa xác định, lại vượt kích thướcbảo làm
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa⚠
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa⚠
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa ×2
- Có chướng ngại · có lối đi: bản Việt “…thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa”; bản Pāli āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa.
- Không chướng ngại · không lối đi: bản Việt “…thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa”; bản Pāli āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa.
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
7Đất đã xác định, đúng kích thướcbảo làm
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
đi, không dặn Bảo làm rồi đi, không dặn điều kiện (đoạn 8–13). Điều nào không dặn mà thợ làm sai thì vị ấy chịu tội của điều ấy, như tự mình làm.
8Không dặn về khu đất · thợ làm ở đất chưa xác địnhđi, không dặn
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì (vị ấy) phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
9Không dặn về khu đất · đất đã xác địnhđi, không dặn
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
10Không dặn về kích thước · thợ làm vượt kích thướcđi, không dặn
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
11Không dặn về kích thước · đúng kích thướcđi, không dặn
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
12Không dặn cả hai · đất chưa xác định, vượt kích thướcđi, không dặn
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa⚠
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa⚠
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa ×2
- Có chướng ngại · có lối đi: bản Việt “…thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa”; bản Pāli āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa.
- Không chướng ngại · không lối đi: bản Việt “…thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa”; bản Pāli āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa.
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
13Không dặn cả hai · đất đã xác định, đúng kích thướcđi, không dặn
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
có dặn, nghe tin Có dặn đủ điều kiện, rồi nghe tin thợ làm sai (đoạn 14–25). Vị ấy “nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin” nhắc lại điều bị làm sai; nếu không thì phạm dukkaṭa.
14Nghe tin: đất chưa xác định, có chướng ngại, không lối đicó dặn, nghe tin
- Phải nhắn: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.”nhắc: vô tội
- Không đến, không nhắndukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
15Nghe tin: đất chưa xác định, có chướng ngại, có lối đicó dặn, nghe tin
- Phải nhắn: “Phải là khu đất được xác định và không có chướng ngại.”nhắc: vô tội
- Không đến, không nhắndukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định và không có chướng ngại.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
16Nghe tin: đất chưa xác định, không chướng ngại, không lối đicó dặn, nghe tin
- Phải nhắn: “Phải là khu đất được xác định và có lối đi quanh.”nhắc: vô tội
- Không đến, không nhắndukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định và có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
17Nghe tin: đất chưa xác định, không chướng ngại, có lối đicó dặn, nghe tin
- Phải nhắn: “Phải là khu đất được xác định.”nhắc: vô tội
- Không đến, không nhắndukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
18Nghe tin: đất đã xác định, có chướng ngại, không lối đicó dặn, nghe tin
- Phải nhắn: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.”nhắc: vô tội
- Không đến, không nhắndukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
19Nghe tin: đất đã xác định, có chướng ngại, có lối đicó dặn, nghe tin
- Phải nhắn: “Phải là không có chướng ngại.”nhắc: vô tội
- Không đến, không nhắndukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
20Nghe tin: đất đã xác định, không chướng ngại, không lối đicó dặn, nghe tin
- Phải nhắn: “Phải là có lối đi quanh.”nhắc: vô tội
- Không đến, không nhắndukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
21Họ làm đúng như lời dặncó dặn, nghe tin
- Đất đã xác định · không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
22Dặn về kích thước · nghe tin thợ làm vượt kích thướccó dặn, nghe tin
- Có chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Có chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải theo kích thước và không có chướng ngại.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải theo kích thước và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải theo kích thước.”không nhắn: dukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” ... “Phải theo kích thước và không có chướng ngại.” ... “Phải theo kích thước và có lối đi quanh.” ... “Phải theo kích thước.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
Dấu “…” trong bản dịch là chỗ lặp lại câu “Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa”.
23Dặn về kích thước · đúng kích thước nhưng khu đất có vấn đềcó dặn, nghe tin
- Có chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Có chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải là không có chướng ngại.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta là theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.” ... “Phải là không có chướng ngại.” ... “Phải là có lối đi quanh.” ... thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
Dấu “…” trong bản dịch là chỗ lặp lại câu “Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa”.
24Dặn đủ · nghe tin đất chưa xác định, vượt kích thướccó dặn, nghe tin
- Có chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Có chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, và không có chướng ngại.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải là khu đất được xác định và theo kích thước.”không nhắn: dukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” ... “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, và không có chướng ngại.” ... “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, và có lối đi quanh.” ... “Phải là khu đất được xác định và theo kích thước.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
Dấu “…” trong bản dịch là chỗ lặp lại câu “Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa”.
25Dặn đủ · đất đã xác định, đúng kích thước nhưng khu đất có vấn đềcó dặn, nghe tin
- Có chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Có chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải là không có chướng ngại.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói cốc được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.” ... “Phải là không có chướng ngại.” ... “Phải là có lối đi quanh.” ... thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
Dấu “…” trong bản dịch là chỗ lặp lại câu “Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa”.
thợ phạm Có dặn mà thợ vẫn làm sai (đoạn 26–31). Tội về phía “các vị xây dựng”: mỗi điều làm sai lời dặn là một dukkaṭa. BMC: vị đã dặn không phạm; thợ chỉ mang tội nếu là tỳ khưu.
26Dặn về khu đất · thợ làm ở đất chưa xác địnhthợ phạm
- Có chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×3
- Có chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Không chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Không chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
27Dặn về khu đất · đất đã xác địnhthợ phạm
- Có chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
28Dặn về kích thước · thợ làm vượt kích thướcthợ phạm
- Có chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×3
- Có chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Không chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Không chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
29Dặn về kích thước · đúng kích thướcthợ phạm
- Có chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
30Dặn đủ · thợ làm ở đất chưa xác định, vượt kích thướcthợ phạm
- Có chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×4
- Có chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa ×3
- Không chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×3
- Không chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa ×2
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm bốn tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
31Dặn đủ · đất đã xác định, đúng kích thướcthợ phạm
- Có chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
trở về lúc chưa xong Bảo làm rồi đi, trở về khi cốc chưa xong (đoạn 32–37). Vị ấy “nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại”; nếu không thì chịu tội như tự mình làm.
32Khu đất chưa được Tăng xác địnhtrở về lúc chưa xong
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
33Khu đất đã được xác địnhtrở về lúc chưa xong
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
34Vượt quá kích thướctrở về lúc chưa xong
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
35Đúng kích thướctrở về lúc chưa xong
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
36Đất chưa xác định, lại vượt kích thướctrở về lúc chưa xong
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa⚠
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesa ×2dukkaṭa⚠
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa ×2
- Có chướng ngại · có lối đi: bản Việt “…thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa”; bản Pāli āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa.
- Không chướng ngại · không lối đi: bản Việt “…thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa”; bản Pāli āpatti dvinnaṃ saṅghādisesena dukkaṭassa, tức hai tội saṅghādisesa và một tội dukkaṭa.
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa với hai tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh ... thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm hai tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
37Đất đã xác định, đúng kích thướctrở về lúc chưa xong
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm cốc cho tôi” rồi ra đi. Họ làm cốc cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
hoàn tất Hoàn tất phần còn dở (đoạn 38). Làm tiếp một cốc sai quy định cho mình ở, dù phần dở là của mình hay của người khác, tự làm hay bảo người làm, đều phạm.
38Hoàn tất phần còn dở: bốn cách đều phạmhoàn tất
- Tự hoàn tất phần mình làm dởsaṅghādisesa
- Bảo người hoàn tất phần mình làm dởsaṅghādisesa
- Tự hoàn tất phần người khác làm dởsaṅghādisesa
- Bảo người hoàn tất phần người khác làm dởsaṅghādisesa
Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
không phạm Không phạm (đoạn 39).
39Những trường hợp không phạmkhông phạm
Vô tội trong trường hợp hang núi, hang nhân tạo, chòi cỏ, vì nhu cầu của vị khác, trong mọi trường hợp ngoại trừ nhà ở,[*] vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
Ba chi phần (điều 6) Bình giải · BMC
Chú giải cho rằng gang Thiện Thệ bằng ba gang người thường, tức khoảng 75 cm. Các tính toán gần đây, dựa vào việc Đức Phật không cao khác thường, đặt khoảng 25 cm; như vậy cốc tối đa khoảng 3 m × 1,75 m. Chiều nào cũng không được vượt: cốc 10 × 8 gang dù nhỏ hơn về diện tích vẫn phạm vì quá chiều ngang.
Tạng Luật: có tô trát. Chú giải: mái và vách đều được tô bằng đất sét hay vôi, nối liền nhau; mái lợp cỏ thì không tính. Chú giải còn nói nơi rộng từ ba gang trở xuống, không xoay được cái giường, thì không tính là cốc.
Điều 7 (trú xá lớn): 12 đoạn tương ứng Tạng Luật
Điều 7 phân tích giống điều 6 nhưng không giới hạn kích thước (trú xá có thí chủ), nên chỉ còn ba đòi hỏi: Tăng xác định khu đất (saṅghādisesa), không có chướng ngại và có lối đi vòng quanh (mỗi điều dukkaṭa). Bản dịch đánh số tiếp theo phần duyên sự, từ đoạn 3 đến đoạn 14.
3Tự làm (8 trường hợp) · bảo làm ở đất chưa xác địnhtự làm
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội. Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
4Bảo làm · đất đã xác địnhbảo làm
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
5Không dặn · thợ làm ở đất chưa xác địnhđi, không dặn
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
6Không dặn · đất đã xác địnhđi, không dặn
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
7Có dặn, nghe tin · đất chưa xác địnhcó dặn, nghe tin
- Có chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Có chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải là khu đất được xác định và không có chướng ngại.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là khu đất được xác định và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải là khu đất được xác định.”không nhắn: dukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói trú xá được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa. ... “Phải là khu đất được xác định và không có chướng ngại.” ... “Phải là khu đất được xác định và có lối đi quanh.” ... “Phải là khu đất được xác định.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
8Có dặn, nghe tin · đất đã xác địnhcó dặn, nghe tin
- Có chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.”không nhắn: dukkaṭa
- Có chướng ngại · có lối đi → nhắn “Phải là không có chướng ngại.”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đi → nhắn “Phải là có lối đi quanh,”không nhắn: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Vị ấy nghe rằng: “Họ nói trú xá được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Phải là không có chướng ngại và có lối đi quanh.” ... “Phải là không có chướng ngại.” ... “Phải là có lối đi quanh,” thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
9Thợ làm sai lời dặn · đất chưa xác địnhthợ phạm
- Có chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×3
- Có chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Không chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Không chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
10Thợ làm sai lời dặn · đất đã xác địnhthợ phạm
- Có chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đithợ: dukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đithợ: dukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị: “Phải là khu đất được xác định, không có chướng ngại, và có lối đi quanh.” Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
11Trở về lúc chưa xong · đất chưa xác địnhtrở về lúc chưa xong
- Có chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đisaṅghādisesadukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đisaṅghādisesa
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi. Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho trú xá ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm hai tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
12Trở về lúc chưa xong · đất đã xác địnhtrở về lúc chưa xong
- Có chướng ngại · không lối đidukkaṭa ×2
- Có chướng ngại · có lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · không lối đidukkaṭa
- Không chướng ngại · có lối đivô tội
Vị tỳ khưu chỉ thị: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi. Họ làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có chướng ngại, không lối đi quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho trú xá ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa. ... có chướng ngại, có lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, không lối đi quanh ... thì phạm tội dukkaṭa. ... không có chướng ngại, có lối đi quanh thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
13Hoàn tất phần còn dở: bốn cách đều phạmhoàn tất
Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa. Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
14Những trường hợp không phạmkhông phạm
Vô tội trong trường hợp hang núi, hang nhân tạo, chòi cỏ, vì nhu cầu của vị khác, trong mọi trường hợp ngoại trừ nhà ở, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, Indacanda dịch
“Vô tội trong trường hợp hang núi, hang nhân tạo, chòi cỏ, vì nhu cầu của vị khác, trong mọi trường hợp ngoại trừ nhà ở, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Vu khống tội pārājika Duṭṭhadosa · Aññabhāgiya
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
| duṭṭho doso appatīto | bị sân làm hư hỏng, bực bộiduṭṭha: hư hỏng (từ dussati); dosa: sân hận; appatīta: không hài lòng |
| amūlakena pārājikena dhammena | bằng một trường hợp pārājika không có gốc rễa (không) + mūla (gốc, nguyên nhân) + -ka |
| anuddhaṃseyya | buộc tội, tố cáokhả năng cách của anuddhaṃseti |
| appeva nāma naṃ imamhā brahmacariyā cāveyyaṃ | “mong sao ta làm cho vị ấy rơi khỏi đời phạm hạnh này!”cāveyyaṃ: sai khiến cách của cavati (rơi), ngôi 1 khả năng cách |
| samanuggāhīyamāno vā asamanuggāhīyamāno vā | dù được tra hỏi hay không được tra hỏi |
| adhikaraṇaṃ | sự tranh tụng, vụ việc pháp lý |
| bhikkhu ca dosaṃ patiṭṭhāti | và vị tỳ khưu thừa nhận lỗi (hay: vẫn giữ sân hận)patiṭṭhāti: đứng vững, xác nhận |
| aññabhāgiyassa adhikaraṇassa kiñcidesaṃ lesamattaṃ upādāya | mượn một điểm chỉ là cái cớ của một vụ việc thuộc loại khác (điều 9)añña (khác) + bhāga (loại); lesa (cái cớ) + matta (chỉ là) |
Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.
Duyên sự Tạng Luật
“…phẩm vị A-la-hán đã được đại đức Dabba Mallaputta chứng ngộ vào lúc bảy tuổi.” Không còn việc gì phải làm cho mình, Ngài tự hỏi: “Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì cho hội chúng?” và xin nhận việc phân chỗ ở, sắp xếp bữa ăn. Ngài xếp các vị chuyên Kinh ở chung để tụng đọc, các vị rành Luật ở chung để bàn Luật, các vị chuyên thiền ở chung để khỏi quấy rầy nhau; vị nào đến buổi tối, Ngài “thể nhập vào hỏa giới” và dẫn đường bằng chính ánh sáng ấy.
Các vị mới tu, phước ít, thường được chỗ ở kém và bữa ăn tồi. Một hôm, được một gia chủ có bữa ăn ngon cúng dường nhưng chỉ nhận cơm tấm và cháo chua, các vị ấy nghĩ: “Chắc chắn rằng chúng ta đã bị Dabba Mallaputta ly gián với vị gia chủ!”
Họ xúi Tỳ-khưu-ni Mettiyā đến trước Đức Phật tố cáo Ngài Dabba đã làm nhục cô:
“…Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.”
Đức Phật hỏi Ngài Dabba ba lần. Ngài chỉ đáp: “Bạch ngài, con như thế nào thì đức Thế Tôn biết mà.” Đức Phật dạy: “Này Dabba, các vị (dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu ngươi có làm, hãy nói: ‘Có làm;’ nếu ngươi không làm, hãy nói: ‘Không làm.’” Ngài đáp:
“Bạch ngài, từ khi con được sanh ra, con không bao giờ nhận thấy mình là kẻ tầm cầu việc đôi lứa ngay cả trong lúc ngủ mơ, huống gì là tỉnh thức.”
Tỳ-khưu-ni Mettiyā bị trục xuất; nhóm kia thú nhận đã xúi giục. Đức Phật chế điều 8.
Đi xuống núi Gijjhakūṭa, nhóm ấy thấy một con dê đực với một con dê cái, bèn đặt tên chúng là “Dabba Mallaputta” và “Tỳ-khưu-ni Mettiyā”, rồi nói: “…trước đây chúng tôi đã nói về Dabba Mallaputta từ điều đã được nghe; giờ đây chúng tôi đã đích thân thấy được đương sự…”
Các Tỳ-khưu đáp: “Đại đức Dabba Mallaputta sẽ không làm như thế.” Đức Phật chế điều 9: mượn một sự việc có thật nhưng thuộc loại khác để buộc tội.
Phân tích từ ngữ Tạng Luật
- Không có nguyên cớamūlaka
- “…nghĩa là không được thấy, không được nghe, không bị nghi ngờ.”
- Về tội pārājika
- “…về bất cứ điều nào thuộc về bốn điều.”
- Bôi nhọanuddhaṃseti
- “…hoặc là buộc tội, hoặc là bảo người buộc tội.”
- Chắc là ta có thể loại trừ vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này
- “Ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi trạng thái tỳ khưu, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi pháp Sa-môn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi giới uẩn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi đức tính khắc khổ.”
- Sự kiện nhỏ nhặt (điều 9)lesa
- “…mười điều nhỏ nhặt: điều nhỏ nhặt về sự xuất thân, điều nhỏ nhặt về tên gọi, điều nhỏ nhặt về dòng họ, điều nhỏ nhặt về đặc điểm, điều nhỏ nhặt về tội vi phạm, điều nhỏ nhặt về bình bát, điều nhỏ nhặt về y phục, điều nhỏ nhặt về thầy tế độ, điều nhỏ nhặt về thầy dạy học, điều nhỏ nhặt về chỗ trú ngụ.”
Điều 8 khác điều 9 thế nào? (BMC) Điều 8: không thấy, không nghe, không nghi gì cả; hoặc có nghe mà nói là đã thấy, có nghi mà nói là đã nghe. Điều 9: có thấy một việc thật, nhưng bóp méo sự việc: thấy một vị dòng Sát-đế-lỵ khác phạm mà buộc tội vị này cũng dòng Sát-đế-lỵ; thấy một tội nhẹ mà thổi phồng thành pārājika.
Các trường hợp trong Tạng Luật Tạng Luật
📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · điều 8Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 36 câu xử tội
Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.
Đoạn 16
- Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 17
- Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 18
- Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 19
- Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 20
- Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 21
- Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy, đã nghe, và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 22
- Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe và đã nghi ngờ … “Ta đã nghe và đã thấy … “Ta đã nghe, đã nghi ngờ, và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 23
- Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ và đã thấy … “Ta đã nghi ngờ và đã nghe … “Ta đã nghi ngờ, đã thấy, và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 24
- Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe ngươi phạm tội pārājika, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 25
- Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, … nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 26
- Đối với vị đã nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ … “Ta đã thấy … “Ta đã nghi ngờ và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 27
- Đối với vị đã nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy ngươi phạm tội pārājika, … “Ta đã nghe ngươi phạm tội pārājika, … “Ta đã thấy và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 28
- Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, (nhưng) hoài nghi về việc đã thấy, không tin việc đã thấy, không nhớ việc đã thấy, quên đi việc đã thấy, … (nhưng) hoài nghi về việc đã nghe, không tin việc đã nghe, không nhớ việc đã nghe, quên đi việc đã nghe, … (nhưng) hoài nghi về việc đã nghi ngờ, không tin việc đã nghi ngờ, không nhớ việc đã nghi ngờ, quên đi việc đã nghi ngờ, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ và đã thấy … Ta đã nghi ngờ và đã nghe … Ta đã nghi ngờ, đã thấy, và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 29
- Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 30
- Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” … Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 31
- Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy và đã bị nghe … Ngươi đã bị thấy và đã bị nghi ngờ … Ngươi đã bị thấy, đã bị nghe, và đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, … Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe và đã bị nghi ngờ … Ngươi đã bị nghe và đã bị thấy … Ngươi đã bị nghe, đã bị nghi ngờ, và đã bị thấy … Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị thấy … Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị nghe … Ngươi đã bị nghi ngờ, đã bị thấy, và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 32
- Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe … nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ … nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe và đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 33
- Đối với vị đã nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” … Đối với vị đã nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy … nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe … nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 34
- Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, (nhưng) hoài nghi về việc đã thấy, không tin việc đã thấy, không nhớ việc đã thấy, quên đi việc đã thấy; … (nhưng) hoài nghi về việc đã nghe, không tin việc đã nghe, không nhớ việc đã nghe, quên đi việc đã nghe; … (nhưng) hoài nghi về việc đã nghi ngờ, không tin việc đã nghi ngờ, không nhớ việc đã nghi ngờ, quên đi việc đã nghi ngờ, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị thấy … “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị nghe … “Ngươi đã bị nghi ngờ, đã bị thấy, và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 36
- Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.dukkaṭasaṅghādisesa
Đoạn 37
- Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
Đoạn 38
- Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội dukkaṭa với tội nói lời mắng nhiếc (tội pācittiya thứ nhì).dukkaṭapācittiya
Đoạn 39
- Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.pācittiya
Đoạn 40
- Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
Đoạn 41
- Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì vô tội.vô tội
Đoạn 42
- Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội dukkaṭa với tội nói lời mắng nhiếc.dukkaṭapācittiya
Đoạn 43
- Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.pācittiya
Đoạn 44
- Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- … khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì vô tội.vô tội
- … khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội dukkaṭa với tội nói lời mắng nhiếc.dukkaṭapācittiya
- … khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.pācittiya
Đoạn 45
- Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào.
- Nếu trong khi có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa với tội saṅghādisesa.dukkaṭasaṅghādisesa
- … khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- … khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội dukkaṭa với tội nói lời mắng nhiếc.dukkaṭapācittiya
- … khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.pācittiya
Đoạn 46
- Vị có sự ghi nhận là không trong sạch về vị trong sạch, vị có sự ghi nhận là không trong sạch về vị không trong sạch, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội
📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · điều 9Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 20 câu xử tội
Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.
Đoạn 4
- Cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
- Như thế là cuộc tranh tụng có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng.
- Điều nhỏ nhặt về sự xuất thân nghĩa là có vị (xuất thân) Sát-đế-lỵ được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị (xuất thân) Sát-đế- lỵ khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (xuất thân) Sát-đế-lỵ phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Có vị (xuất thân) Bà-la- môn được thấy … Có vị (xuất thân) thương buôn được thấy … Có vị (xuất thân) hạng cùng đinh được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị (xuất thân) hạng cùng đinh khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (xuất thân) hạng cùng đinh phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về tên gọi nghĩa là có vị tên Buddharakkhita được thấy … Có vị tên Dhammarakkhita được thấy … Có vị tên Saṅgharakkhita được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị tên Saṅgharakkhita khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị tên Saṅgharakkhita phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về dòng họ nghĩa là có vị họ Gotama được thấy … Có vị họ Moggallāna được thấy … Có vị họ Kaccāyana được thấy … Có vị họ Vāsiṭṭha được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị họ Vāsiṭṭha khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị họ Vāsiṭṭha phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về đặc điểm nghĩa là có vị cao được thấy … Có vị lùn được thấy … Có vị đen được thấy … Có vị trắng được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị trắng khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị trắng phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về tội vi phạm nghĩa là có vị được thấy là đang vi phạm tội nhẹ, nếu buộc tội vị ấy về tội pārājika rằng: “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về bình bát nghĩa là có vị mang bình bát đồng được thấy … Có vị mang bình bát đất được thấy … Có vị mang bình bát tráng men được thấy … Có vị mang bình bát đất loại bình thường được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị khác (cũng) mang bình bát đất loại bình thường lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị mang bình bát đất loại bình thường phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về y phục nghĩa là có vị mặc y paṃsukūla được thấy … Có vị mặc y của gia chủ được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị khác (cũng) mặc y của gia chủ lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị mặc y của gia chủ phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về thầy tế độ nghĩa là có người đệ tử của vị tên (như vầy) được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy người đệ tử khác của vị tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là đệ tử của vị tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về thầy dạy học nghĩa là có người học trò của vị tên (như vầy) được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy người học trò khác của vị tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là học trò của vị tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
- Điều nhỏ nhặt về chỗ trú ngụ nghĩa là có vị ngụ ở chỗ trú ngụ của người tên (như vầy) được thấy là đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị khác (cũng) ngụ ở chỗ trú ngụ của người tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị ngụ ở chỗ trú ngụ của người tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa,” thì phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 5
- Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa bị nhìn thấy.
- (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội saṅghādisesa có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa.
- Nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa,” như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 6
- Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa bị nhìn thấy.
- (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội saṅghādisesa có sự ghi nhận là tội thullaccaya … có sự ghi nhận là tội pācittiya … có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya … có sự ghi nhận là tội dukkaṭa … có sự ghi nhận là tội dubbhāsita.
- Nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 7
- Vị tỳ khưu đang phạm tội thullaccaya … tội pācittiya … tội pāṭidesanīya … tội dukkaṭa … tội dubbhāsita bị nhìn thấy.
- (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội dubbhāsita có sự ghi nhận là tội dubbhāsita.
- Nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 8
- Vị tỳ khưu đang phạm tội dubbhāsita bị nhìn thấy.
- (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội dubbhāsita có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa, … dựa trên (cơ sở) tội dubbhāsita có sự ghi nhận là tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa.
- Nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa,” như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 9
- Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa bị nhìn thấy.
- (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội saṅghādisesa có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa.
- Nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa- môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa,” như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 10
- Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa bị nhìn thấy.
- (Nguyên cáo) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa có sự ghi nhận là tội thullaccaya ... có sự ghi nhận là tội pācittiya ... có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya ... có sự ghi nhận là tội dukkaṭa ... có sự ghi nhận là tội dubbhāsita.
- Nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn,ngươi không phải là Thích tử, … như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 11
- Vị tỳ khưu đang phạm tội thullaccaya bị nhìn thấy.
- (Nguyên cáo) dựa rên (cơ sở) tội thullaccaya có sự ghi nhận là tội thullaccaya ... có sự ghi nhận là tội pācittiya ... có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya ... có sự ghi nhận là tội dukkaṭa ... có sự ghi nhận là tội dubbhāsita ... có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa.
- Nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, … như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 12
- Vị tỳ khưu đang phạm tội pācittiya ... tội pāṭidesanīya ... tội dukkaṭa ... tội dubbhāsita bị nhìn thấy.
- (Nguyên cáo) dựa trên (cơ sở) tội dubbhāsita có sự ghi nhận là tội dubbhāsita … dựa trên (cơ sở) tội dubbhāsita có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa ... có sự ghi nhận là tội thullaccaya ... có sự ghi nhận là tội pācittiya ... có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya ... có sự ghi nhận là tội dukkaṭa.
- Nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là Sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa,” như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; phạm tội saṅghādisesa theo từng lời nói.saṅghādisesa
Đoạn 13
- Vị buộc tội hoặc bảo (người khác) buộc tội theo như sự nhận biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội
Bốn chi phần Bình giải · BMC
🤝Muốn nêu lỗi một vị khác: làm sao cho đúng?BMC dẫn Tiểu phẩm IX.5
Trước hết, tự xét mình có đủ tư cách không: thân hành trong sạch; khẩu hành trong sạch; có tâm từ, không thù hằn; học rộng về Pháp; biết rõ cả hai Giới bổn.
Rồi quyết định: “Tôi sẽ nói đúng lúc, không sai lúc; nói điều có thật, không phải điều không thật; nói lời dịu dàng, không thô lỗ; nói điều liên quan đến mục đích; nói với tâm từ, không với sân hận bên trong.”
Năm điều nên giữ trong lòng: lòng bi mẫn, mong lợi ích cho người kia, lòng thương cảm, mong người kia được phục hồi, và sự tôn trọng Luật.
Rồi tìm lúc, chỗ thích hợp và xin phép trước: “Karotu āyasmā okāsaṃ. Ahaṃ taṃ vattukāmo.” — Xin đại đức cho phép, tôi muốn nói với đại đức. Buộc tội mà không xin phép thì phạm dukkaṭa.
Theo The Buddhist Monastic Code I, chương 5, điều 8 (Ṭhānissaro Bhikkhu)
Điều 8: “Vị có sự ghi nhận là không trong sạch về vị trong sạch, vị có sự ghi nhận là không trong sạch về vị không trong sạch, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Điều 9: “Vị buộc tội hoặc bảo (người khác) buộc tội theo như sự nhận biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Chia rẽ Tăng · ủng hộ vị chia rẽ Saṅghabheda · Bhedānuvattaka
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
| samaggassa saṅghassa bhedāya parakkameyya | ra sức cho sự chia rẽ của Tăng đang hòa hợpsamagga: hợp nhất; bheda: sự vỡ, chia rẽ; parakkameyya: nỗ lực, xông tới (parā + kam) |
| bhedanasaṃvattanikaṃ adhikaraṇaṃ | vụ việc đưa đến chia rẽ |
| samādāya paggayha tiṭṭheyya | chấp nhận, nâng đỡ và đứng vững (trong việc ấy)paggayha: nâng lên, ủng hộ; tiṭṭheyya: đứng, kiên trì |
| sametāyasmā saṅghena | xin đại đức hòa hợp với Tăngsametu: hãy đến cùng, hãy hòa đồng (mệnh lệnh cách của sameti) |
| sammodamāno avivadamāno ekuddeso | thân thiện, không tranh cãi, chung một (lần) tụng (Giới bổn) |
| yāvatatiyaṃ samanubhāsitabbo | phải được can gián đến lần thứ bayāva (cho đến) + tatiya (thứ ba); samanubhāsati: khuyên can, chất vấn |
| paṭinissaggāya · paṭinissajjeyya | để từ bỏ · nếu vị ấy từ bỏ |
| anuvattakā vaggavādakā (điều 11) | những người đi theo, nói thay cho phe nhómanu (theo) + vatta (đi); vagga (phe) + vādaka (người nói) |
Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.
Duyên sự Tạng Luật
Devadatta bàn với Kokālika và các bạn: “Chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama.” Biết Đức Phật sẽ không chấp thuận, ông vẫn đến xin năm điều, bắt buộc cho đến trọn đời: chỉ ở rừng, chỉ đi khất thực, chỉ mặc y phấn tảo, chỉ ở gốc cây, không ăn cá thịt; ai làm khác thì phạm tội.
“Này Devadatta, thôi đi. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị sống ở rừng; vị nào muốn thì cứ cư ngụ ở trong làng. … Này Devadatta, Ta cho phép chỗ trú ngụ là gốc cây trong tám tháng. Cá thịt là thanh tịnh với ba điều kiện là: không thấy, không nghe, và không nghi ngờ.”
Devadatta mừng rỡ ra đi và loan báo khắp Rājagaha: “Sa-môn Gotama không cho phép năm sự việc này. Còn chúng tôi sẽ thọ trì và thực hành.” Người thiếu hiểu biết khen nhóm ấy khổ hạnh; người có đức tin thì chê trách. Đức Phật chế điều 10.
Khi các Tỳ-khưu nói Devadatta nói sai Pháp, sai Luật, nhóm Kokālika cãi: “Devadatta là người nói đúng Pháp. Devadatta là người nói đúng Luật. … hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.”
Đức Phật chế điều 11.
Phân tích từ ngữ Tạng Luật
- Hội chúng hợp nhấtsamagga saṅgha
- “…nghĩa là có sự đồng cộng trú được thiết lập trong cùng ranh giới.”
- Ra sức chia rẽbhedāya parakkamati
- “…vị (nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để những người này trở thành khác biệt, trở thành tách biệt, trở thành phe nhóm?’ rồi tầm cầu phe cánh, kết hợp nhóm bọn.”
- Cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ
- “…là mười tám sự việc làm chia rẽ.”
- Nắm lấy · loan truyền · chấp giữ
- “Nắm lấy: là chọn lấy. Loan truyền: là khơi lên. Chấp giữ: là không chịu từ bỏ.”
1️⃣8️⃣Mười tám sự việc làm chia rẽTheo danh sách BMC dẫn từ Tiểu phẩm
Một bên chủ trương nói: phi Pháp là Pháp, Pháp là phi Pháp; phi Luật là Luật, Luật là phi Luật; điều Như Lai không nói là có nói, có nói là không nói; điều Như Lai không thực hành là có thực hành, có thực hành là không; điều Như Lai không chế định là có chế định, có chế định là không; có tội là không tội, không tội là có tội; tội nặng là nhẹ, tội nhẹ là nặng; tội còn dư (không phải pārājika) là tội không dư, tội không dư là còn dư; tội thô là không thô, không thô là thô.
Theo The Buddhist Monastic Code I, chương 5, điều 10 (Ṭhānissaro Bhikkhu)
Tăng khuyến cáo thế nào? Tạng Luật
Đây là thủ tục chung cho cả bốn điều 10–13. Bấm “vẫn không bỏ” để đi tiếp từng bước, hoặc “dứt bỏ” để dừng lại:
“Tội dukkaṭa do lời đề nghị. Các tội thullaccaya do hai lời tuyên ngôn của hành sự. Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội saṅghādisesa. Đối với vị vi phạm tội saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời tuyên ngôn của hành sự hết hiệu lực.”
Tạng Luật – Phân tích Giới Tỳ-khưu I, điều 10, Indacanda dịchCác trường hợp trong Tạng Luật Tạng Luật
📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · điều 10Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 11 câu xử tội
Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.
Đoạn 5
- Nên được nói đến lần thứ nhì.
- Nên được nói đến lần thứ ba.
- Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Nên được nói đến lần thứ nhì.
- Nên được nói đến lần thứ ba.
- Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Tội dukkaṭa do lời đề nghị.
- Các tội thullaccaya do hai lời tuyên ngôn của hành sự.
- Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
Đoạn 6
- Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
Đoạn 7
- Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội
📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · điều 11Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 11 câu xử tội
Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.
Đoạn 2
- Nên được nói đến lần thứ nhì.
- Nên được nói đến lần thứ ba.
- Nếu (các vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Nên được nói đến lần thứ nhì.
- Nên được nói đến lần thứ ba.
- Nếu (các vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Tội dukkaṭa do lời đề nghị.
- Các tội thullaccaya do hai lời tuyên ngôn của hành sự.
- Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
Đoạn 3
- Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, các vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, các vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, các vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
Đoạn 4
- Các vị chưa được nhắc nhở, các vị dứt bỏ, các vị có tâm bị rối loạn, các vị bị thọ khổ hành hạ, các vị bị điên, các vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội
🧮 Máy tính tội: sự thật × nhận thức Tạng Luật
Chọn điều học, sự thật và điều vị ấy nghĩ; kết quả lấy đúng câu trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch).
Thế nào mới là chia rẽ Tăng? Bình giải · BMC
Các vị cùng sinh hoạt, ở trong cùng một ranh giới (sīmā).
Và mỗi bên có ít nhất bốn vị.
Như nói phi Pháp là Pháp, tội nặng là nhẹ…
Hai bên tụng Giới bổn, làm lễ Tự tứ hay hành sự riêng trong cùng một ranh giới.
BMC: chia rẽ Tăng mà cố ý, biết điều mình chủ trương là phi Pháp nhưng vẫn nói là Pháp, là một trong năm trọng tội vô gián, ngang với giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán, làm thân Phật chảy máu (AN 5.129). Điều 10 chặn từ xa: chỉ mới “ra sức” chia rẽ mà không chịu bỏ sau ba lần khuyến cáo đã là Tăng tàn.
“Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.” (điều 11 thêm: các vị có tâm bị rối loạn, các vị bị thọ khổ hành hạ)
Khó dạy Dubbaca
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
| dubbacajātiko | có bản tính khó nói (khó dạy)dubbaca: khó được nói với + jātika: bản tính (nghĩa đen: sinh ra) |
| uddesapariyāpannesu sikkhāpadesu | về các điều học nằm trong (Giới bổn) được tụnguddesa (sự tụng) + pariyāpanna (được bao gồm) |
| sahadhammikaṃ vuccamāno | khi được nói đúng theo Phápsaha (cùng với) + dhamma + -ika, dùng như trạng từ |
| attānaṃ avacanīyaṃ karoti | làm cho mình thành người không thể nói đượca + vacanīya (người nên được nói với) |
| aññamaññavacanena aññamaññavuṭṭhāpanena | nhờ nói với nhau, nhờ giúp nhau ra khỏi (tội)aññamañña: lẫn nhau; vuṭṭhāpana: làm cho đứng dậy, cho ra khỏi tội |
Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.
Duyên sự Tạng Luật
Được các Tỳ-khưu nhắc “việc ấy không được phép”, Channa đáp:
“Này các đại đức, điều gì khiến các ngươi nghĩ là tôi cần được dạy bảo? Chính tôi mới nên dạy bảo các ngươi. Đức Phật là của chúng tôi, Giáo Pháp là của chúng tôi, Giáo Pháp đã được thấu suốt bởi ngài thái tử của chúng tôi. Cũng giống như cơn gió mạnh thổi qua thì gom tụ cỏ, củi, lá cây, và rác rưởi đó đây chung lại thành đống; … tương tợ như thế, các ngươi có tên khác nhau, có họ khác nhau, … đã được xuất gia và quy tụ chung lại.”
- Bản tánh khó dạydubbacajātika
- “…là vị khó dạy, là hội đủ các đức tính làm cho vị ấy trở thành khó dạy, không nhẫn nhịn, không nghiêm chỉnh thọ nhận sự giáo huấn.”
- Đúng theo Phápsahadhammika
- “…điều học nào đã được đức Thế Tôn quy định, điều ấy nghĩa là đúng theo Pháp.”
Thủ tục khuyến cáo giống điều 10 (xem các bước ở Phần 4). BMC: nếu sau khi phạm Tăng tàn mà vị ấy vẫn như cũ, Tăng có thể làm hành sự xua đuổi (pabbājanīya-kamma); nếu không chịu nhận tội, có thể bị đình chỉ. Theo truyền thống, chính Channa về sau đã thay đổi sau khi chịu “phạm đàn” (hình phạt im lặng) Đức Phật để lại.
Các trường hợp trong Tạng Luật Tạng Luật
📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · điều 12Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 11 câu xử tội
Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.
Đoạn 2
- Nên được nói đến lần thứ nhì.
- Nên được nói đến lần thứ ba.
- Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Nên được nói đến lần thứ nhì.
- Nên được nói đến lần thứ ba.
- Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Tội dukkaṭa do lời đề nghị.
- Các tội thullaccaya do hai lời tuyên ngôn của hành sự.
- Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
Đoạn 3
- Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, … phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, … phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, … phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
Đoạn 4
- Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội
🧮 Máy tính tội: sự thật × nhận thức Tạng Luật
Chọn điều học, sự thật và điều vị ấy nghĩ; kết quả lấy đúng câu trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch).
“Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Làm hư hỏng các gia đình Kuladūsaka
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
| gāmaṃ vā nigamaṃ vā upanissāya viharati | sống nương vào một làng hay thị trấn |
| kuladūsako | người làm hư hỏng các gia đìnhkula (gia đình) + dūsaka (người làm hư, từ dūseti) |
| pāpasamācāro | có hành vi xấupāpa (xấu) + samācāra (cách cư xử) |
| dissanti ceva suyyanti ca | vừa được thấy vừa được nghe (ai cũng biết) |
| pakkamatāyasmā imamhā āvāsā, alaṃ te idha vāsena | xin đại đức rời khỏi trú xứ này; đại đức ở đây đã đủ rồipakkamatu: hãy ra đi; alaṃ: đủ rồi |
| chandagāmino … bhayagāmino | đi theo thiên vị vì thương … vì sợbốn agati: chanda, dosa, moha, bhaya |
Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.
Duyên sự Tạng Luật
Các vị ấy trồng hoa, kết vòng hoa đem tặng phụ nữ các gia đình; ăn chung đĩa, ngồi chung chỗ với họ; ăn sái giờ, uống rượu, nhảy múa, ca hát, chơi cờ, tập cưỡi ngựa, bắn cung… Dân chúng lại khen các vị ấy “lịch thiệp, thân thiện, nói năng hòa nhã, luôn cười xã giao”.
Một vị đi khất thực “với mắt nhìn xuống, thành tựu các oai nghi” thì bị người ta chê: “Người này là ai mà trông giống như kẻ ngu trong nhóm người ngu, … Khi gã đi đến, ai mà chịu bố thí đồ ăn đây?”
Một nam cư sĩ thỉnh vị ấy về nhà cúng dường và nhờ thưa lên Đức Phật: “…những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. … Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ.”
Đức Phật sai Ngài Sāriputta và Ngài Moggallāna đến Kīṭāgiri làm hành sự xua đuổi nhóm ấy (vốn là đệ tử của hai Ngài), đi cùng nhiều Tỳ-khưu vì nhóm ấy “dữ tợn và thô lỗ”. Bị xua đuổi, nhóm ấy không chịu sửa mà còn nói Tăng thiên vị. Đức Phật chế điều học.
Phân tích từ ngữ Tạng Luật
- Kẻ làm hư hỏng các gia đìnhkuladūsaka
- “…là kẻ làm các gia đình trở thành hư hỏng với bông hoa, hoặc với trái cây, hoặc với bột tắm, hoặc với đất sét, hoặc với gỗ chà răng, hoặc với tre, hoặc bằng cách thức chữa bệnh, hoặc bằng cách đi bộ đưa tin.”
- Có hành động sai tráipāpasamācāra
- “…vị trồng bông hoa, vị bảo kẻ khác trồng, vị tưới bông hoa, vị bảo kẻ khác tưới, vị hái bông hoa, vị bảo kẻ khác hái, vị kết lại bông hoa, vị bảo kẻ khác kết lại.”
- Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy
- “Trước kia họ mộ đạo, vì vị ấy họ trở nên không còn mộ đạo. Họ đã có niềm tin trở thành không có niềm tin.”
- Sống nương tựa
- “…các vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bịnh là phụ thuộc vào nơi ấy.”
Vì sao biếu quà lại “làm hư hỏng” gia đình? Người ta quý vị Tỳ-khưu vì quà cáp, vì được chữa bệnh, được đưa tin, chứ không vì giới hạnh; niềm tin của họ đặt sai chỗ, và các vị giữ giới lại bị xem thường. BMC: Chú giải cho phép đưa những tin liên quan đến việc đạo (thỉnh chư Tăng thọ trai, thuyết pháp, chuyển lời kính thăm một vị trưởng lão). BMC cũng xếp vào lối sống sai: chạy việc cho vua quan, gia chủ (ngày nay như tham gia vận động chính trị), xem bói, chọn ngày, đoán mộng.
Các trường hợp trong Tạng Luật Tạng Luật
📋Đủ các trường hợp trong phần phân tích · điều 13Nguyên văn Tạng Luật, Indacanda dịch · 11 câu xử tội
Đủ các câu xử tội trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch), giữ nguyên lời và thứ tự trong sách; số đoạn theo bản dịch (có chỗ bản dịch đánh số lại từ 1). Dấu “…” là chỗ bản dịch lược phần lặp lại.
Đoạn 12
- Nên được nói đến lần thứ nhì.
- Nên được nói đến lần thứ ba.
- Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Nên được nói đến lần thứ nhì.
- Nên được nói đến lần thứ ba.
- Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
Đoạn 13
- Tội dukkaṭa do lời đề nghị.
- Các tội thullaccaya do hai lời tuyên ngôn của hành sự.
- Khi chấm dứt tuyên ngôn của hành sự thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
Đoạn 15
- Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa.saṅghādisesa
- Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
- Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa.dukkaṭa
Đoạn 16
- Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”vô tội
🧮 Máy tính tội: sự thật × nhận thức Tạng Luật
Chọn điều học, sự thật và điều vị ấy nghĩ; kết quả lấy đúng câu trong phần phân tích của Tạng Luật (Indacanda dịch).
“Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Hai điều Bất định Aniyata
Giới bổn tụng: “Ime kho panāyasmanto dve aniyatā dhammā uddesaṃ āgacchanti” — hai điều bất định này được đưa ra đọc tụng. Đây không phải hai tội mới, mà là cách Tăng xét xử khi có người đáng tin tố cáo.
🔤 Giải nghĩa từng chữ Pāli
| eko ekāya raho | một (nam) với một (nữ), ở chỗ riêngraho: kín đáo, riêng tư |
| paṭicchanne āsane alaṅkammaniye | trên chỗ ngồi được che khuất, đủ thuận tiện cho việc ấyalaṃ (đủ) + kammaniya (thích hợp để làm) |
| nisajjaṃ kappeyya | ngồi xuống |
| saddheyyavacasā upāsikā | nữ cư sĩ có lời nói đáng tinsaddheyya (đáng tin, từ saddahati) + vacasā (có lời nói) |
| nisajjaṃ paṭijānamāno | (vị Tỳ-khưu) thừa nhận việc ngồi |
| kāretabbo | phải được xửphân từ tương lai bị động của kāreti |
| aniyato | bất định, không xác định |
Giải nghĩa theo Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation (BPS, 2014); phần tiếng Việt do trang biên soạn.
Duyên sự Tạng Luật
Con gái một gia đình hộ độ đại đức Udāyi được gả về một gia đình hộ độ khác. Udāyi đến thăm, cùng cô “một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, tùy lúc thì tâm sự, tùy lúc thì nói Pháp.”
Bà Visākhā, mẹ của Migāra, được mời đến nhà ấy và thấy cảnh đó. Bà nói:
“Thưa ngài, điều này là không thích hợp, là không đúng đắn. … Thưa ngài, mặc dầu ngài đại đức không có ước muốn gì đến chuyện ấy, tuy nhiên những người không có niềm tin thì khó mà thuyết phục lắm.”
Đức Phật chế Bất định 1. Udāyi lại ngồi với cô ấy ở chỗ không che khuất nhưng vẫn riêng tư; bà Visākhā nhắc lần nữa mà vị ấy không lưu tâm. Đức Phật chế Bất định 2.
Phân tích từ ngữ Tạng Luật
- Kín đáoraho
- “…kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với tai. Kín đáo đối với mắt nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu lên. Kín đáo đối với tai nghĩa là không thể nghe lời nói (với giọng) bình thường.”
- Được che khuấtpaṭicchanna
- “…bởi bức tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc bởi tấm màn, hoặc bởi tấm vách chắn, hoặc bởi cội cây, hoặc bởi cột nhà, hoặc bởi nhà kho, hoặc bởi bất cứ vật gì.”
- Thuận tiện cho hành độngalaṅkammaniya
- “…là có thể thực hiện việc đôi lứa.”
- Ngồinisajjā
- “Khi người nữ đang ngồi thì vị tỳ khưu ngồi gần hoặc nằm gần, khi vị tỳ khưu đang ngồi thì người nữ ngồi gần hoặc nằm gần, hoặc cả hai đang ngồi, hoặc cả hai đang nằm.”
- Có lời nói đáng tin cậysaddheyyavacasā
- “…nghĩa là người nữ đã chứng Thánh Quả, đã thông suốt Tứ Diệu Đế, đã hiểu rõ Tam Học: Giới, Định, Tuệ.”
- Nữ cư sĩupāsikā
- “…người nữ đã đi đến nương nhờ đức Phật, đã đi đến nương nhờ Giáo Pháp, đã đi đến nương nhờ Hội Chúng.”
Tố cáo và thú nhận Tạng Luật
Tạng Luật nêu từng trường hợp lời tố cáo khác với lời thú nhận. Thử đoán Tăng phải xử thế nào:
Trường hợp 1Nữ cư sĩ tố cáo: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy.⚖️ Xử thế nào?
theo tội vi phạm“…và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm.”
Tức là pārājika.Trường hợp 2Cũng lời tố cáo ấy, nhưng vị ấy nói: “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc đôi lứa.”⚖️ Xử thế nào?
theo việc ngồi“…thì nên hành xử theo việc ngồi.”
Ngồi riêng với người nữ ở chỗ kín: pācittiya (Ưng đối trị 44, học ở các bài sau).Trường hợp 3Cũng lời tố cáo ấy, nhưng vị ấy nói: “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm.”⚖️ Xử thế nào?
theo việc nằm“…thì nên hành xử theo việc nằm.”
Trường hợp 4Cũng lời tố cáo ấy, nhưng vị ấy nói: “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng.”⚖️ Xử thế nào?
không xử“…thì không nên hành xử.”
Đứng không thuộc điều này, và Tăng chỉ xử theo điều vị ấy thừa nhận.Trường hợp 5Nữ cư sĩ tố cáo: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy.⚖️ Xử thế nào?
theo tội vi phạm“…và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm.”
Tức là Tăng tàn 2 (nếu có tâm dục).Vì sao chỉ xử theo lời thú nhận? Câu chữ của điều học cho Tăng hai cách: xử theo lời thú nhận, hoặc theo lời nữ cư sĩ. Nhưng Tạng Luật (phần phân tích) chỉ cho xử theo lời thú nhận. BMC giải thích: về sau Đức Phật chế nguyên tắc “xử theo lời thú nhận” (Diệt tranh 4) và các bước bảo vệ người vô tội, vì có nhóm Lục sư lợi dụng thủ tục để buộc tội người họ ghét. Tăng không được tin ngay lời đầu tiên mà phải tra hỏi cho đến khi cả Tăng đều thấy rõ sự thật.
| Bất định 1 | Bất định 2 | |
|---|---|---|
| Chỗ ngồi | Kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho việc đôi lứa | Không che khuất, nhưng riêng tư, thích hợp để nói lời thô tục |
| Có thể bị tố cáo | pārājika, saṅghādisesa hoặc pācittiya | saṅghādisesa hoặc pācittiya |
| Người nữ | Kể cả bé gái mới sanh | Người nữ hiểu được lời tốt, lời xấu (như Tăng tàn 3) |
BMC: nữ cư sĩ “đáng tin” là bậc ít nhất đã chứng quả Dự lưu; nếu đúng vậy thì Tăng buộc phải điều tra. Nếu người tố cáo chưa phải bậc ấy, Tăng vẫn có thể điều tra. BMC cho rằng lời một nam cư sĩ như vậy cũng nên được đối xử tương tự.
Tổng hợp · thử phán xét · giữ mình
Bảng tổng hợp
| Điều | Duyên sự | Thành tội khi | Không phạm (ví dụ) |
|---|---|---|---|
| 6 · Cốc liêu | Các vị ở Āḷavi | Tự xin, cho mình ở, không xin Tăng xác định khu đất hoặc vượt 12 × 7 gang | Hang, chòi cỏ, làm cho người khác |
| 7 · Trú xá lớn | Channa chặt cây thiêng | Có thí chủ, cho mình ở, không xin Tăng xác định khu đất | Như điều 6 |
| 8 · Vu khống | Dabba và Mettiyā | Vì sân, buộc tội pārājika không có nguyên cớ, mong vị kia bị loại | Buộc tội theo điều mình thật sự tin |
| 9 · Mượn cớ | Hai con dê | Mượn một sự việc thuộc loại khác để buộc tội pārājika | Buộc tội theo như sự nhận biết |
| 10 · Chia rẽ | Devadatta | Không bỏ sau lần tuyên ngôn thứ ba | Chưa được nhắc nhở; dứt bỏ |
| 11 · Ủng hộ | Kokālika và các bạn | Như trên (một, hai hay ba vị) | Như trên |
| 12 · Khó dạy | Channa | Như trên | Như trên |
| 13 · Hư hỏng gia đình | Assaji và Punabbasuka | Bị bảo rời trú xứ, nói Tăng thiên vị, không bỏ sau lần thứ ba | Như trên |
| Bất định 1–2 | Udāyi và bà Visākhā | Xử theo điều vị ấy thú nhận | Thú nhận chỉ đứng: không xử |
⚖️ Thử phán xét — 10 tình huống
Chọn lời phán cho từng tình huống. Các tình huống dựa trên Tạng Luật và BMC; trong thực tế, mỗi trường hợp cụ thể cần được bậc thông Luật xem xét.
Giữ mình
“Kẻ xin không được ưa thích.” Chỗ ở vừa đủ, không làm phiền thí chủ, không làm hại chúng sinh nơi khu đất.
Chỉ nêu lỗi khi mình trong sạch, có tâm từ, nói đúng lúc, đúng sự thật, và xin phép trước.
Tăng lớn mạnh “với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau”. Nghe lời khuyên đúng Pháp là một hạnh của bậc Thánh.
Không mua lòng thí chủ bằng quà cáp, chữa bệnh, đưa tin; tránh ngồi riêng với người nữ ở chỗ kín, như lời bà Visākhā.
Giữ gìn sự hòa hợp
Mười ba điều Tăng tàn khép lại với một hình ảnh: Tăng như một thân thể sống, cần chỗ ở khiêm tốn, cần lời nói chân thật về nhau, cần sự hòa hợp, cần biết lắng nghe, và cần giữ niềm tin của người đời. Bốn điều cuối cho thấy Luật kiên nhẫn đến đâu: khuyên riêng, khuyên trước Tăng, rồi ba lần tuyên ngôn; chỉ người cố chấp đến cùng mới phạm.
Bài sau sẽ học nhóm Ưng xả đối trị (Nissaggiya Pācittiya): những vật dụng phải xả bỏ trước khi sám hối, bắt đầu từ mười điều về y.
Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm
Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật
Trắc nghiệm 15 câu
✍️Bài tập Bài 4 — 92 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →Tài liệu tham khảo
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Pārājikapāḷi & Phân Tích Giới Tỳ-khưu I, Chương Saṅghādisesa (điều 6–13) và Chương Aniyata, tamtangpaliviet.net.
- Ṭhānissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code I, chương 5 “Saṅghādisesa” và chương 6 “Aniyata” (bản sửa 2025), dhammatalks.org — phần bình giải.
- Giới bổn Pātimokkha, bản Pāli Mahāsaṅgīti và bản dịch Anh của Bhikkhu Brahmali, SuttaCentral.
- Bhikkhu Ñāṇatusita, The Bhikkhu Pātimokkha: A Word by Word Translation, Buddhist Publication Society, Kandy, 2014 — giải nghĩa từng chữ Pāli.
📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

