Duyên sự và mười điều trục xuất
Mười pháp hoại (nāsanaṅga) là mười điều mà nếu sa-di phạm vào thì Tăng được phép trục xuất. HT. Hộ Pháp gọi là mười pháp làm “…hư hoại phẩm hạnh Sa di.”
Duyên sự: sa-di Kaṇṭaka Tạng Luật
“Vào lúc bấy giờ, sa di tên Kaṇṭaka của đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã làm nhơ tỳ khưu ni tên Kaṇṭakī. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - ‘Vì sao vị sa di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế?’”
Đại Phẩm, Chương Trọng Yếu · Indacanda dịch| Số | Pāli | Đại Phẩm (Indacanda) | HT. Hộ Pháp |
|---|---|---|---|
| 1 | Pāṇātipātī hoti | “…là kẻ giết hại mạng sống…” | “Cố ý sát hại chúng sinh dầu nhỏ dầu lớn.” |
| 2 | adinnādāyī hoti | “…là kẻ lấy vật không được cho…” | “Cố ý trộm cắp của cải người khác.” |
| 3 | abrahmacārī hoti | “…là kẻ phi Phạm hạnh (hành dâm)…” | “Cố ý hành dâm người hoặc con vật.” |
| 4 | musāvādī hoti | “…là kẻ nói dối…” | “Cố ý nói dối, không đúng sự thật.” |
| 5 | majjapāyī hoti | “…là kẻ uống chất say…” | “Cố ý uống rượu, các chất say.” |
| 6 | buddhassa avaṇṇaṃ bhāsati | “…phỉ báng đức Phật…” | “Nói xấu, chê trách Đức Phật.” |
| 7 | dhammassa avaṇṇaṃ bhāsati | “…phỉ báng Giáo Pháp…” | “Nói xấu, chê trách Pháp bảo.” |
| 8 | saṅghassa avaṇṇaṃ bhāsati | “…phỉ báng Hội Chúng…” | “Nói xấu, chê trách chư Tăng.” |
| 9 | micchādiṭṭhiko hoti | “…là kẻ có tri kiến sai trái…” | “Có tà kiến thấy sai hiểu lầm.” |
| 10 | bhikkhunidūsako hoti | “…là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni…” | “Hãm hại phạm hạnh Tỳ khưu ni.” |
- giết hại
- trộm cắp
- hành dâm
- nói dối
- uống chất say
- đức Phật
- Giáo Pháp
- Hội Chúng
- tri kiến sai trái
- làm nhơ tỳ-khưu-ni
Điều 1–5: năm giới đầu
Năm điều đầu của mười pháp hoại trùng với năm giới đầu đã học ở Bài 2. HT. Hộ Pháp nhấn mạnh chữ cố ý trong cả năm điều, và lấy giới sát sanh làm ví dụ:
“Nếu Sa di cố ý phạm phải 1 trong 10 chi pháp này: Ví dụ: ‘sát sanh’. Sa di nào cố ý sát sanh, dầu giết một con vật nhỏ như con kiến, con muỗi, thậm chí đến các trứng kiến, trứng mối... cũng gọi là phạm giới sát sanh.”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaBMC dẫn Chú giải về mức độ của năm điều này: giết con kiến hay đập trứng rệp; trộm dù chỉ một cọng cỏ; hành dâm dưới bất kỳ hình thức nào; nói dối dù chỉ để đùa; cố ý uống rượu.
- Là kẻ giết hại mạng sống (Pāṇātipātī hoti):
“Cố ý sát hại chúng sinh dầu nhỏ dầu lớn.”
- Là kẻ lấy vật không được cho (adinnādāyī hoti):
“Cố ý trộm cắp của cải người khác.”
- Là kẻ phi Phạm hạnh (hành dâm) (abrahmacārī hoti):
“Cố ý hành dâm người hoặc con vật.”
- Là kẻ nói dối (musāvādī hoti):
“Cố ý nói dối, không đúng sự thật.”
- Là kẻ uống chất say (majjapāyī hoti):
“Cố ý uống rượu, các chất say.”
So với Tỳ-khưu. Tỳ-khưu phạm Bất cộng trú khi giết người, trộm vật từ năm māsaka, hành dâm, khoe pháp thượng nhân không có (Bài 2); các lỗi nhẹ hơn như giết sinh vật, nói dối thường, uống chất say là Ưng đối trị. Với sa-di, Đại Phẩm gom cả năm điều vào mười yếu tố trục xuất.
Điều 6–8: phỉ báng Phật, Pháp, Tăng
Ba điều kế là nói lời phỉ báng Tam Bảo: buddhassa avaṇṇaṃ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṃ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṃ bhāsati.
- Phỉ báng đức Phật (buddhassa avaṇṇaṃ bhāsati). HT. Hộ Pháp:
“Nói xấu, chê trách Đức Phật.”
- Phỉ báng Giáo Pháp (dhammassa avaṇṇaṃ bhāsati). HT. Hộ Pháp:
“Nói xấu, chê trách Pháp bảo.”
- Phỉ báng Hội Chúng (saṅghassa avaṇṇaṃ bhāsati). HT. Hộ Pháp:
“Nói xấu, chê trách chư Tăng.”
Người xuất gia đã quy y Phật, Pháp, Tăng ba lần trong lễ thọ sa-di; nói lời chê bai chính nơi mình nương tựa là bỏ nền của đời xuất gia. Vì vậy HT. Hộ Pháp dạy giữ “…đức tin trong sạch nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng.”
Thế nào là phỉ báng? BMC dẫn Chú giải: là nói trái với lời tán thán Tam Bảo vẫn thường tụng, chẳng hạn cho rằng Pháp của Đức Phật không được khéo thuyết, hay chúng đệ tử của Ngài thực hành không chân chánh. Vậy điều bị cấm là lời chê bai (avaṇṇa); thưa hỏi để hiểu Pháp không thuộc điều này.
Điều 9: tri kiến sai trái
Điều thứ chín: micchādiṭṭhiko hoti, “…là kẻ có tri kiến sai trái…”
. HT. Hộ Pháp ghi: “Có tà kiến thấy sai hiểu lầm.” BMC dẫn Chú giải: tà kiến ở đây là chấp một trong hai cực đoan, thường kiến hoặc đoạn kiến.
Kinh định nghĩa tà kiến Kinh · HT. Minh Châu
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà kiến? Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự, không có quả báo các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh; ở đời không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí tự mình chứng đạt lại tuyên bố lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà kiến.”
Trung Bộ 117, Đại kinh Bốn mươi · HT. Minh Châu dịchSa-di Kaṇṭaka chấp tà kiến Tạng Luật
Ưng đối trị 70 kể một sa-di (cũng tên Kaṇṭaka) chấp rằng các pháp chướng ngại không gây chướng ngại. Các Tỳ-khưu khuyên can mà vị ấy không bỏ, Tăng trục xuất:
“…‘Này ông sa di, kể từ hôm nay không được tuyên bố đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo sư của ngươi nữa. Ngay cả việc các sa di khác được hưởng là việc nằm chung chỗ ngụ với các tỳ khưu hai ba đêm, việc ấy không có cho ngươi nữa. Hãy đi chỗ khác, hãy biến mất đi.’”
Phân tích Giới Tỳ-khưu, Ưng đối trị 70 · Indacanda dịchBMC phân biệt hai loại trục xuất sa-di: trục xuất khỏi tư cách sa-di theo mười yếu tố của Đại Phẩm (bài này), và trục xuất như một hình phạt như trường hợp Kaṇṭaka ở Ưng đối trị 70 (Phần 7).
Điều 10: làm nhơ Tỳ-khưu-ni
Điều thứ mười: bhikkhunidūsako hoti, “…là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni…”
. HT. Hộ Pháp ghi: “Hãm hại phạm hạnh Tỳ khưu ni.” Đây chính là việc của sa-di Kaṇṭaka trong duyên sự. BMC: trong mười điều, chỉ người làm nhơ Tỳ-khưu-ni là bị trục xuất ngay, không xét gì thêm.
Không bao giờ được thọ cụ túc. Người làm nhơ Tỳ-khưu-ni (bhikkhunidūsaka) cũng nằm trong mười một hạng không thể thành sa-di hay Tỳ-khưu đã học ở Bài 1: “Bhikkhunidūsako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”: chưa tu lên bậc trên thì không cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì trục xuất.
| Điều | Trong mười pháp hoại | Trong mười một hạng không thể thành |
|---|---|---|
| Làm nhơ Tỳ-khưu-ni | Có (điều 10) | Có |
| Phỉ báng Tam Bảo | Có (điều 6–8) | Không |
| Giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán | Thuộc điều 1 (giết hại) | Có |
Hậu quả và con đường trở lại
Phạm pháp hoại thì sao? Tỳ-khưu Hộ Pháp
“Vị Sa di ấy bị hư hoại phẩm hạnh Sa di, không còn là Sa di thật trong giáo pháp của Đức Phật nữa. Dầu trước đây, vị Sa di ấy được thành tựu do thọ đúng Tam quy, nay sau khi phạm 1 trong 10 chi pháp hoại, vị Sa di ấy bị đứt Tam quy và vị Thầy Tế độ. Bây giờ bên ngoài, thân chỉ có mặc bộ y còn sót lại mà thôi, bên trong tâm không còn phẩm hạnh Sa di nữa.”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất Gia“Vì vậy, phẩm hạnh Sa di rất mỏng manh, nên cần phải có đức tin trong sạch nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng. Nhờ đức tin trong sạch ấy, mới có tâm hổ thẹn tội lỗi, tâm ghê sợ tội lỗi, làm nhân duyên hỗ trợ cho việc giữ gìn giới được trong sạch…”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaCon đường trở lại Tỳ-khưu Hộ Pháp
“Sau khi vị Đại Đức Thầy Tế độ hoặc một vị Đại Đức nào khác truyền Tam quy đúng và đệ tử thọ Tam quy đúng, cả hai bên đều đúng. Sau khi thọ Tam quy xong, người đệ tử trở thành Sa di mới trở lại.”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaXử lý theo từng nhóm Bình giải · BMC
BMC dẫn Chú giải, cho thấy mười điều không được xử giống nhau. Việc trục xuất, cũng như hình phạt, trước hết là trách nhiệm của vị thầy của sa-di.
| Nhóm | Biết lỗi | Không chịu sửa |
|---|---|---|
| Điều 1–5 (năm giới đầu) | Đã đứt Tam quy, thầy tế độ, phần lợi lộc chung và chỗ ở trong chùa. Thấy lỗi, quyết tâm giữ gìn thì thọ Tam quy lại với thầy tế độ, trở lại như trước. | Trục xuất khỏi tư cách sa-di. |
| Điều 6–9 (phỉ báng, tà kiến) | Bị khiển trách; thấy lỗi thì chịu hình phạt ngăn cấm thích hợp, rồi được truyền giới lại. | Trục xuất. |
| Điều 10 (làm nhơ Tỳ-khưu-ni) | Trục xuất ngay; trọn đời này không được xuất gia hay thọ cụ túc lại. | |
Sa-di phạm năm điều đầu đã đứt Tam quy, nhưng vẫn còn là sa-di; thấy lỗi thì thọ Tam quy lại và trở lại như cũ.
Vị ấy “…không còn là Sa di thật trong giáo pháp của Đức Phật nữa.” Sau khi sám hối và thọ Tam quy đúng thì thành sa-di mới.
Hai cách nói khác nhau về danh xưng, nhưng cùng một con đường: thấy lỗi, sám hối với thầy và thọ Tam quy lại.
Tỳ-khưu đối với sa-di bị trục xuất
Khi một sa-di đã bị trục xuất, các Tỳ-khưu cũng có điều phải giữ. Ưng đối trị 70:
- Dụ dỗ:
“Hoặc vẫn dụ dỗ: Vị dụ dỗ (nói rằng): ‘Ta sẽ cho ngươi bình bát hoặc y hoặc sự đọc tụng hoặc sự hỏi han’ thì phạm tội pācittiya.”
- Bảo phục vụ:
“Hoặc vẫn bảo phục vụ: Vị chấp nhận bột tắm hoặc đất sét hoặc gỗ chà răng hoặc nước rửa mặt của vị (sa di) ấy thì phạm tội pācittiya.”
- Nằm chung chỗ ngụ:
“…ở chỗ chung mái che, khi vị sa di bị trục xuất đang nằm vị tỳ khưu nằm xuống thì phạm tội pācittiya.”
Tỳ-khưu không còn che chở, nuôi dưỡng người đã bị trục xuất như một sa-di; người ấy được tự do sống đời cư sĩ hoặc sám hối, thọ lại như HT. Hộ Pháp dạy.
Thử tra · thử phán xét
Thử tra: việc này có phải pháp hoại?
⚖️ Thử phán xét — 8 tình huống
Giữ gìn tấm y và Tam quy
Mười pháp hoại cho thấy tư cách sa-di đứng trên hai nền: giới (năm điều đầu) và niềm tin đúng vào Tam Bảo (năm điều sau). Phạm vào một điều, theo lời HT. Hộ Pháp, thì “…thân chỉ có mặc bộ y còn sót lại mà thôi…”.
Nhưng cửa không đóng hẳn: người biết lỗi, sám hối với thầy và thọ Tam quy đúng thì trở thành sa-di mới. Giữ đức tin trong sạch, hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi là cách tốt nhất để không phải đi lại con đường ấy.
Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm
Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật
Trắc nghiệm 15 câu
✍️Bài tập Sa-di 3 — 53 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →Tài liệu tham khảo
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Đại Phẩm I (Chương Trọng Yếu) và Phân tích Giới Tỳ-khưu II (Ưng đối trị 70), tamtangpaliviet.net.
- Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất Gia, mục “10 Pháp Hoại Của Sa di”.
- HT. Thích Minh Châu (dịch), Trung Bộ 117 – Đại kinh Bốn mươi, SuttaCentral.
- Bản Pāli Mahāsaṅgīti, Mahāvagga I.60–67, SuttaCentral.
📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

