Duyên sự: năm yếu tố hay mười điều
Mười pháp hành phạt là những lỗi mà sa-di phạm vào thì bị thầy răn phạt (daṇḍakamma), nhưng không mất tư cách sa-di như mười pháp hoại ở Bài 3.
Duyên sự Tạng Luật
“Vào lúc bấy giờ, các sa di sống không tôn kính, không vâng lời, có lối cư xử không hòa nhã đối với các tỳ khưu.”
Đại Phẩm, Chương Trọng Yếu · Indacanda dịchNăm hay mười? Tỳ-khưu Hộ Pháp
Đại Phẩm (bản Pāli Mahāsaṅgīti và bản dịch Indacanda) ghi năm yếu tố; BMC cũng ghi năm. Sách Gương Bậc Xuất Gia của HT. Hộ Pháp ghi mười: năm giới sau của sa-di (giới 6–10) cộng với năm yếu tố trên. Bài này học đủ cả mười, và ghi rõ điều nào từ đâu.
| Số | HT. Hộ Pháp | Trong Đại Phẩm? |
|---|---|---|
| 1 | “Thọ thực sái giờ (quá 12 giờ trưa).” | Không (là giới 6) |
| 2 | “Sự xem nhảy múa, nghe ca hát, thổi kèn, đánh đàn làm chướng ngại cho việc hành phạm hạnh cao thượng.” | Không (là giới 7) |
| 3 | “Sự trang điểm thoa vật thơm, dồi phấn son, đeo tràng hoa làm cho phát sanh phiền não.” | Không (là giới 8) |
| 4 | “Nằm ngồi chỗ quá cao và xinh đẹp.” | Không (là giới 9) |
| 5 | “Sự thọ nhận vàng bạc (tiền).” | Không (là giới 10) |
| 6 | “Cố gắng làm mất lợi lộc đến các Tỳ khưu.” | Có, yếu tố 1 |
| 7 | “Cố gắng làm mất lợi ích đến các Tỳ khưu.” | Có, yếu tố 2 |
| 8 | “Cố gắng làm mất chỗ ở đến các Tỳ khưu.” | Có, yếu tố 3 |
| 9 | “Mắng nhiếc, hăm dọa các Tỳ khưu.” | Có, yếu tố 4 |
| 10 | “Nói lời đâm thọc, chia rẽ các Tỳ khưu này với các Tỳ khưu khác.” | Có, yếu tố 5 |
- ăn phi thời
- xem múa hát
- trang điểm
- chỗ nằm cao rộng
- nhận vàng bạc
- làm mất lợi lộc
- làm mất lợi ích
- làm mất chỗ ở
- mắng nhiếc
- chia rẽ
Điều 1–5: năm giới sau (theo HT. Hộ Pháp)
Năm điều đầu theo HT. Hộ Pháp chính là năm giới sau của sa-di đã học ở Bài 2. Phạm vào thì không đứt Tam quy như năm giới đầu, nhưng thầy phải răn dạy.
- Giới 6 (Vikālabhojanā):
“Thọ thực sái giờ (quá 12 giờ trưa).”
- Giới 7 (Nacca-gīta-vādita-visūkadassanā):
“Sự xem nhảy múa, nghe ca hát, thổi kèn, đánh đàn làm chướng ngại cho việc hành phạm hạnh cao thượng.”
- Giới 8 (Mālā-gandha-vilepana-dhāraṇa-maṇḍana-vibhūsanā):
“Sự trang điểm thoa vật thơm, dồi phấn son, đeo tràng hoa làm cho phát sanh phiền não.”
- Giới 9 (Uccāsayana-mahāsayanā):
“Nằm ngồi chỗ quá cao và xinh đẹp.”
- Giới 10 (Jātarūpa-rajata-paṭiggahaṇā):
“Sự thọ nhận vàng bạc (tiền).”
“Đối với Sa di phạm phải 1 trong 10 pháp, phải bị hành phạt…”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaXem lại từng giới. Giới hạn của từng điều (thế nào là phi thời, thế nào là chỗ nằm cao rộng, vàng bạc gồm những gì) đã học kỹ ở Bài 2, phần 5–7, có liên kết sang các điều tương ứng của Tỳ-khưu.
Điều 6–10: năm yếu tố trong Đại Phẩm
Năm yếu tố trong Đại Phẩm đều nhắm vào chư Tỳ-khưu: làm hại lợi lộc, lợi ích, chỗ ở của các vị; mắng nhiếc; chia rẽ các vị với nhau. Đây là lỗi trong cách sống chung với Tăng.
| Số | Pāli | Đại Phẩm (Indacanda) | HT. Hộ Pháp |
|---|---|---|---|
| 1 | Bhikkhūnaṃ alābhāya parisakkati | “…ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi lộc…” | “Cố gắng làm mất lợi lộc đến các Tỳ khưu.” |
| 2 | Bhikkhūnaṃ anatthāya parisakkati | “…ra sức làm cho các tỳ khưu không được sự lợi ích…” | “Cố gắng làm mất lợi ích đến các Tỳ khưu.” |
| 3 | Bhikkhūnaṃ avāsāya parisakkati | “…ra sức làm cho các tỳ khưu không có chỗ ngụ…” | “Cố gắng làm mất chỗ ở đến các Tỳ khưu.” |
| 4 | Bhikkhū akkosati paribhāsati | “…mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu…” | “Mắng nhiếc, hăm dọa các Tỳ khưu.” |
| 5 | Bhikkhū bhikkhūhi bhedeti | “…chia rẽ các tỳ khưu (này) với các tỳ khưu (khác)…” | “Nói lời đâm thọc, chia rẽ các Tỳ khưu này với các Tỳ khưu khác.” |
parisakkati: cố gắng, ra sức. Lỗi nằm ở chỗ cố ý làm cho chư Tăng mất lợi lộc, mất lợi ích hay mất chỗ ở.
Mắng nhiếc, gièm pha (akkosati paribhāsati) và chia rẽ (bhedeti) các Tỳ-khưu với nhau.
Tỳ-khưu cũng có giới tương tự. Nói lời mắng nhiếc là Ưng đối trị 2, nói đâm thọc là Ưng đối trị 3. Với sa-di, Tạng Luật không định tội, mà cho phép thầy hành phạt.
Hình phạt là gì: sự ngăn cấm
Khi đã cho phép hành phạt, các Tỳ-khưu hỏi: “Hình phạt gì nên được thực hiện?”
Đức Phật dạy:
Ngăn cấm (āvaraṇa) là không cho sa-di đến một số chỗ. Có hai giới hạn, mỗi giới hạn đều có duyên sự:
1. Không ngăn cấm cả tu viện
“Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thực hiện sự ngăn cấm toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng đối với các sa di. Các sa di trong khi không thể đi vào tu viện nên rời đi, hoàn tục, chuyển sang ngoại đạo.”
Đại Phẩm · Indacanda dịch2. Không ngăn cấm thức ăn
“Dân chúng trong lúc làm nước cháo và bữa ăn dâng hội chúng nói với các sa di như vầy: - ‘Này các ngài, hãy đến và húp cháo. Này các ngài, hãy đến và thọ dụng bữa ăn.’ Các vị sa di nói như vầy: - ‘Này các đạo hữu, không thể được. Các tỳ khưu đã thực hiện sự ngăn cấm.’”
Đại Phẩm · Indacanda dịchNgăn cấm một phần: chỗ sinh sống, chỗ lui tới.
Ngăn cấm toàn bộ tu viện; ngăn cấm thức ăn.
Ai được hành phạt sa-di
Phải hỏi thầy tế độ Tạng Luật
“Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không hỏi các vị thầy tế độ lại thực hiện sự ngăn cấm đối với các sa di. Các vị thầy tế độ tìm kiếm (hỏi rằng): ‘Vì sao các sa di của chúng tôi lại không được nhìn thấy?’”
Đại Phẩm · Indacanda dịchKhông dụ dỗ sa-di của vị khác Tạng Luật
“Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã dụ dỗ các sa di của các tỳ khưu trưởng lão. Các vị trưởng lão bị mệt nhọc trong khi tự mình lấy gỗ chà răng và nước súc miệng.”
Đại Phẩm · Indacanda dịchChú giải nói thêm Bình giải · BMC
- Hành phạt trước hết là việc của vị thầy của sa-di; vị khác chỉ được phạt khi có phép của thầy tế độ.
- Chú giải: nếu đã báo với thầy tế độ ba lần về lỗi của đệ tử mà vị ấy không làm gì, thì mình được tự ngăn cấm; Phụ chú giải nhắc nên báo cho Tăng biết trước.
- Chú giải: không được dụ dỗ trực tiếp đệ tử của vị khác, dù vị ấy không giữ giới; chỉ được nói để họ tự thấy điều không nên.
Phạt với tâm nào, bằng cách nào
Tâm của người hành phạt Tỳ-khưu Hộ Pháp
“Sự hành phạt chỉ là sự răn dạy để Sa di trở thành người thiện. Cho nên, mỗi khi Sa di phạm phải 1 trong 10 pháp hành phạt, thì vị thầy nên có tâm từ bi đối với Sa di, mà hành phạt. Cách hành phạt như múc nước, quét dọn xung quanh chùa....”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaTheo Chú giải Bình giải · BMC
| Điều | Nên | Không nên |
|---|---|---|
| Hình thức | Ngăn cấm thích hợp; hoặc việc hợp với lỗi như gánh nước, mang củi, mang cát. | Hình phạt tàn nhẫn, khác thường: bắt đội gạch đá trên đầu, nhận chìm xuống nước. |
| Ý định | Nghĩ rằng: vị ấy sẽ sửa mình, sẽ thôi làm sai. | Nghĩ rằng: cho vị ấy khổ, cho vị ấy hoàn tục. |
| Thời gian | Do vị hành phạt định; thấy sa-di đã biết lỗi, sửa mình thì bãi bỏ. | Kéo dài khi sa-di đã sửa đổi. |
| Khích lệ | Có thể hứa cho thức ăn để khích lệ sa-di vui lòng chịu phạt. | Cắt thức ăn (dukkaṭa, Phần 4). |
Tỳ-khưu không được đánh sa-di
BMC: Tỳ-khưu không được dùng hình phạt trên thân. Không được đánh hay giơ tay dọa sa-di, cũng như với bất cứ người chưa tu lên bậc trên nào; ngay cả đùa giỡn thô bạo cũng không được.
| Việc làm với sa-di | Nguyên văn | Điều |
|---|---|---|
| Đánh | “Vị nổi giận bất bình rồi tung cú đánh vào người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” | ƯĐT 74 |
| Giơ tay dọa đánh | “Vị nổi giận bất bình rồi giá tay dọa đánh người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” | ƯĐT 75 |
| Thọt lét | “Người chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên, phạm tội dukkaṭa.” | ƯĐT 52 |
| Gõ bằng gỗ chà răng | “…không nên đánh (gõ) sa di bằng cây gỗ ấy; vị nào đánh thì phạm tội dukkaṭa.” | Tiểu Phẩm, Chương Tiểu Sự |
“Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nhai gỗ chà răng loại dài. Các vị còn đánh (gõ) các sa di bằng chính những cây gỗ ấy.”
Tiểu Phẩm · Indacanda dịchHành phạt mà không làm tổn thương. Những hình thức Tạng Luật và Chú giải cho phép (ngăn cấm một phần, gánh nước, quét dọn) đều để sa-di có thời gian nhìn lại mình, đúng như lời HT. Hộ Pháp: “Sự hành phạt chỉ là sự răn dạy để Sa di trở thành người thiện.”
Máy thử · thử phán xét
Máy thử: cách hành phạt này có đúng luật?
⚖️ Thử phán xét — 8 tình huống
Răn dạy bằng tâm từ
Mười pháp hoại giữ cho đời sa-di khỏi đổ vỡ; mười pháp hành phạt giữ cho sa-di sống hòa với Tăng và giữ trọn mười giới. Tạng Luật cho phép phạt, nhưng đặt giới hạn rõ: không ngăn cả tu viện, không cắt thức ăn, không phạt khi chưa hỏi thầy tế độ, không đánh đập.
Như HT. Hộ Pháp dạy, “…vị thầy nên có tâm từ bi đối với Sa di, mà hành phạt.” Khi sa-di đã biết lỗi và sửa mình, hình phạt được bãi bỏ.
Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm
Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật
Trắc nghiệm 15 câu
✍️Bài tập Sa-di 4 — 55 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →Tài liệu tham khảo
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Tạng Luật – Đại Phẩm I (Chương Trọng Yếu), Tiểu Phẩm II (Chương Tiểu Sự), Phân tích Giới Tỳ-khưu II (Ưng đối trị 52, 74, 75), tamtangpaliviet.net.
- Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất Gia, mục “10 Pháp Hành Phạt”.
- Ṭhānissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code II, chương “Novices”, dhammatalks.org.
- Bản Pāli Mahāsaṅgīti, Mahāvagga I.57–59, SuttaCentral.
📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

