Ưng học pháp là gì
Ưng học pháp (sekhiya) là 75 điều học về oai nghi: mặc y, đi đứng nơi xóm nhà, thọ nhận và dùng vật thực, thuyết pháp, đại tiểu tiện. Mỗi điều kết bằng …sikkhā karaṇīyā, Indacanda dịch: “…là việc học tập nên được thực hành.”
“75 điều học tập, Sa di cũng như Tỳ khưu phải thực hành theo. Gồm 7 nhóm như sau…”
Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất GiaSa-di và Tỳ-khưu cùng phải thực hành 75 điều này: “Đó là 75 điều học tập, mà Sa di và Tỳ khưu phải nên thực hành theo.”
Theo thông lệ, sa-di cũng được dạy các ưng học pháp và các phận sự trong Hợp phần (Khandhaka), nhưng không có chuẩn mực chung về việc định tội cho sa-di khi vi phạm.
Với Tỳ-khưu thì sao? Tạng Luật
Tỳ-khưu vi phạm do không tôn trọng thì phạm dukkaṭa. Ví dụ phần phân tích điều 1:
“Nên quấn y (nội) cho tròn đều với việc che kín vòng bụng nơi lỗ rún và vòng đầu gối. Vị nào quấn y (nội) để lòng thòng ở phía trước hoặc phía sau do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Phân tích Giới Tỳ-khưu II, Ưng học pháp 1 · Indacanda dịch · xem Bài 11Phần vô tội chung cho hầu hết các điều:
Bảy nhóm, bốn chủ đề
| Nhóm | Tên Pāli (HT. Hộ Pháp) | Điều | Nội dung chính |
|---|---|---|---|
| 1 | Parimaṇḍala: vòng quanh trước sau đều đặn | 1–10 | Mặc y, oai nghi |
| 2 | Ujjagghika: cười lớn | 11–20 | Tiếng nói, cử động |
| 3 | Khambhakata: tay chống nạnh | 21–30 | Dáng điệu; nhận vật thực |
| 4 | Sakkacca: đàng hoàng | 31–40 | Cách thọ thực |
| 5 | Kabaḷa: miếng cơm | 41–50 | Miếng ăn |
| 6 | Surusuru: tiếng rột rột | 51–60 | Dùng vật thực; thuyết pháp |
| 7 | Pāduka: mang guốc | 61–75 | Thuyết pháp; vệ sinh |
- điều 1–26
- điều 27–56
- điều 57–72
- điều 73–75
Mỗi điều bên dưới có ba dòng: Pāli, bản dịch Indacanda, lời giải của HT. Hộ Pháp. Bấm Phân tích trong Tạng Luật để xem phần giải thích.
Nhóm 1: Parimaṇḍala (điều 1–10)
Mười điều đầu dạy cách mặc y cho tròn đều, che kín thân và giữ thân, mắt, y phục cho nghiêm khi đi vào xóm nhà hay ngồi trong nhà thí chủ. Các điều đi thành cặp: một điều cho lúc đi, một điều cho lúc ngồi.
Nhóm 1: Parimaṇḍala (HT. Hộ Pháp: vòng quanh trước sau đều đặn; Indacanda: Phẩm Tròn đều), điều 1–10.
- 1Parimaṇḍalaṃ nivāsessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ quấn y (nội) tròn đều’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên mặc y nội vòng quanh trước sau đều đặn” (Phần trên che kín lỗ rún, phần dưới phủ đầu gối 8 lóng tay)
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên quấn y (nội) cho tròn đều với việc che kín vòng bụng nơi lỗ rún và vòng đầu gối. Vị nào quấn y (nội) để lòng thòng ở phía trước hoặc phía sau do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 2Parimaṇḍalaṃ pārupissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ trùm y (vai trái) tròn đều’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên mặc y vai trái vòng quanh trước sau đều đặn” (Phần trên trùm kín cổ hoặc chừa vai phải, phần dưới phủ đầu gối 4 lóng tay)
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên trùm y (vai trái) cho tròn đều sau khi đã làm bằng nhau cả hai mép y. Vị nào trùm y (vai trái) để lòng thòng ở phía trước hoặc phía sau do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 3Suppaṭicchanno antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Mặc y che kín đáo, ta sẽ đi ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên trùm y kín thân mình, khi đi vào trong xóm làng”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 4Suppaṭicchanno antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Mặc y che kín đáo, ta sẽ ngồi ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên trùm y kín thân mình, khi ngồi trong nhà”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị đã vào đến nơi trú ngụ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 5Susaṃvuto antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Khéo thu thúc, ta sẽ đi ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thu thúc tay chân đàng hoàng, khi đi vào trong xóm làng”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 6Susaṃvuto antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Khéo thu thúc, ta sẽ ngồi ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thu thúc tay chân đàng hoàng, khi ngồi trong nhà”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 7Okkhittacakkhu antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ đi ở nơi xóm nhà với mắt nhìn xuống’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đi vào trong xóm làng, mắt nên nhìn xuống”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên đi ở nơi xóm nhà với mắt nhìn xuống thấy khoảng cách bằng cái cày. Vị nào nhìn chỗ này chỗ nọ khi đi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 8Okkhittacakkhu antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ ngồi ở nơi xóm nhà với mắt nhìn xuống’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi trong nhà, mắt nên nhìn xuống”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên ngồi ở nơi xóm nhà với mắt nhìn xuống thấy khoảng cách bằng cái cày. Vị nào nhìn chỗ này chỗ nọ khi ngồi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 9Na ukkhittakāya antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đi ở nơi xóm nhà với sự vén y lên’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên dỡ y, khi đi vào trong xóm làng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự vén y lên. Vị nào vén y lên một bên hoặc cả hai bên khi đi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 10Na ukkhittakāya antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không ngồi ở nơi xóm nhà với sự vén y lên’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên dỡ y, khi ngồi trong nhà”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên ngồi ở nơi xóm nhà với sự vén y lên. Vị nào vén y lên một bên hoặc cả hai bên khi ngồi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị đã vào đến nơi trú ngụ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Nhóm 2: Ujjagghika (điều 11–20)
Nhóm này giữ tiếng nói và cử động: không cười lớn, nói nhỏ nhẹ, không lắc lư thân, tay, đầu khi đi và khi ngồi nơi xóm nhà.
Nhóm 2: Ujjagghika (HT. Hộ Pháp: cười lớn; Indacanda: Phẩm Cười vang), điều 11–20.
- 11Na ujjagghikāya antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đi ở nơi xóm nhà với tiếng cười vang’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên cười lớn tiếng, khi đi vào trong xóm làng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên đi ở nơi xóm nhà với tiếng cười vang. Vị nào cười tiếng cười lớn khi đi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị chỉ mỉm cười khi có sự việc đáng cười, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 12Na ujjagghikāya antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không ngồi ở nơi xóm nhà với tiếng cười vang’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên cười lớn tiếng, khi ngồi trong nhà”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên ngồi ở nơi xóm nhà với tiếng cười vang. Vị nào cười tiếng cười lớn khi ngồi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị chỉ mỉm cười khi có sự việc đáng cười, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 13Appasaddo antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ đi ở nơi xóm nhà với giọng nói nhỏ nhẹ’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên nói nhỏ nhẹ, khi đi vào trong xóm làng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên đi ở nơi xóm nhà với giọng nói nhỏ nhẹ. Vị nào gây tiếng động ồn tiếng động lớn khi đi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 14Appasaddo antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ ngồi ở nơi xóm nhà với giọng nói nhỏ nhẹ’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên nói nhỏ nhẹ, khi ngồi trong nhà”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên ngồi ở nơi xóm nhà với giọng nói nhỏ nhẹ. Vị nào gây tiếng động ồn tiếng động lớn khi ngồi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 15Na kāyappacālakaṃ antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đi ở nơi xóm nhà với sự đung đưa thân’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đi vào trong xóm làng, thân không nên lắc lư” (đi nghiêm chỉnh)
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư thân. Nên giữ thân ngay thẳng rồi đi. Vị nào đi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư thân trong khi đung đưa thân hình do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 16Na kāyappacālakaṃ antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không ngồi ở nơi xóm nhà với sự đung đưa thân’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi trong nhà, thân không nên lắc lư” (ngồi nghiêm chỉnh)
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên ngồi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư thân. Nên giữ thân ngay thẳng rồi ngồi. Vị nào ngồi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư thân trong khi đung đưa thân hình do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị đã vào đến nơi trú ngụ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 17Na bāhuppacālakaṃ antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đi ở nơi xóm nhà với sự đung đưa cánh tay’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đi vào trong xóm làng, tay không nên chuyển động, đánh đàng xa” (đi nghiêm chỉnh)
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư cánh tay. Nên giữ yên cánh tay rồi đi. Vị nào đi ở nơi xóm nhà có sự lắc lư cánh tay trong khi đung đưa cánh tay do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 18Na bāhuppacālakaṃ antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không ngồi ở nơi xóm nhà với sự đung đưa cánh tay’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi trong nhà, tay không nên chuyển động” (ngồi nghiêm chỉnh)
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên ngồi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư cánh tay. Nên giữ yên cánh tay rồi ngồi. Vị nào ngồi ở nơi xóm nhà có sự lắc lư cánh tay trong khi đung đưa cánh tay do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 19Na sīsappacālakaṃ antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư đầu’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đi vào trong xóm làng, đầu không nên lắc lư” (đi nghiêm chỉnh)
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư đầu. Nên giữ đầu ngay thẳng rồi đi. Vị nào đi ở nơi xóm nhà với với sự lắc lư đầu trong khi đung đưa cái đầu do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 20Na sīsappacālakaṃ antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không ngồi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư đầu’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi trong nhà, đầu không nên lắc lư” (ngồi nghiêm chỉnh)
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên ngồi ở nơi xóm nhà với sự lắc lư đầu. Nên giữ đầu ngay thẳng rồi ngồi. Vị nào ngồi ở nơi xóm nhà với với sự lắc lư đầu trong khi đung đưa cái đầu do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị đã vào đến nơi trú ngụ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Nhóm 3: Khambhakata (điều 21–30)
Sáu điều đầu nói về dáng điệu (không chống nạnh, không trùm đầu, không đi nhón gót, không ngồi ôm gối); bốn điều sau bắt đầu phần vật thực: nhận đồ ăn với sự tôn trọng.
Nhóm 3: Khambhakata (HT. Hộ Pháp: tay chống nạnh; Indacanda: Phẩm Chống nạnh), điều 21–30.
- 21Na khambhakato antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không chống nạnh đi ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đi vào trong xóm làng, tay không nên chống nạnh”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên chống nạnh đi ở nơi xóm nhà. Vị nào chống nạnh một bên hoặc hai bên rồi đi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 22Na khambhakato antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không chống nạnh ngồi ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi trong nhà, tay không nên chống nạnh”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên chống nạnh ngồi ở nơi xóm nhà. Vị nào chống nạnh một bên hoặc hai bên rồi ngồi ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị đã vào đến nơi trú ngụ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 23Na oguṇṭhito antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không trùm đầu lại đi ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đi vào trong xóm làng, không nên trùm đầu”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 24Na oguṇṭhito antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không trùm đầu lại ngồi ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi trong nhà, không nên trùm đầu”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 25Na ukkuṭikāya antaraghare gamissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đi vào trong xóm làng, không nên đi nhón gót”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót. Vị nào đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 26Na pallatthikāya antaraghare nisīdissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không ngồi ở nơi xóm nhà với sự ôm đầu gối’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi trong nhà, tay không nên choàng khoanh vòng 2 đầu gối”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên ngồi ở nơi xóm nhà với sự ôm đầu gối. Vị nào ngồi ở nơi xóm nhà với sự ôm đầu gối bằng tay hoặc ôm đầu gối bằng miếng vải do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị đã vào đến nơi trú ngụ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 27Sakkaccaṃ piṇḍapātaṃ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ thọ lãnh đồ khất thực một cách nghiêm trang’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thọ nhận vật thực một cách cung kính”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên thọ lãnh đồ khất thực một cách nghiêm trang. Vị nào thọ lãnh đồ khất thực không nghiêm trang như là có ý muốn đổ bỏ do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 28Pattasaññī piṇḍapātaṃ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Chú tâm ở bình bát, ta sẽ thọ lãnh đồ khất thực’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thọ nhận vật thực chỉ nhìn trong bát”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên thọ lãnh đồ khất thực với sự chú tâm ở bình bát. Vị nào nhìn chỗ này chỗ nọ khi thọ lãnh đồ khất thực do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 29Samasūpakaṃ piṇḍapātaṃ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ thọ lãnh đồ khất thực với lượng xúp tương xứng’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thọ nhận vật thực canh vừa với cơm”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, khi (xúp) có thêm nhiều món khác nhau để tăng hương vị, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, do vật sở hữu của bản thân, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 30Samatittikaṃ piṇḍapātaṃ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ thọ lãnh đồ khất thực vừa ngang miệng (bình bát)’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thọ nhận vật thực chỉ vừa miệng bát”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên thọ lãnh đồ khất thực vừa ngang miệng (bình bát). Vị nào thọ lãnh đồ khất thực được làm vun đầy lên do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Nhóm 4: Sakkacca (điều 31–40)
Mười điều về cách thọ thực: chú tâm vào bát, ăn theo thứ tự, không vì tham mà che giấu đồ ăn, không xin đồ ăn ngon cho riêng mình khi không bệnh, không nhìn bát người khác để chê.
Nhóm 4: Sakkacca (HT. Hộ Pháp: đàng hoàng; Indacanda: Phẩm Nghiêm trang), điều 31–40.
- 31Sakkaccaṃ piṇḍapātaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ thọ dụng đồ khất thực một cách nghiêm trang’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thọ thực một cách đàng hoàng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên thọ dụng đồ khất thực một cách nghiêm trang. Vị nào thọ dụng đồ khất thực không nghiêm trang như là không có ý muốn ăn do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 32Pattasaññī piṇḍapātaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Chú tâm ở bình bát, ta sẽ thọ dụng đồ khất thực’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thọ thực chỉ nhìn trong bát”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên thọ dụng đồ khất thực với sự chú tâm ở bình bát. Vị nào nhìn chỗ này chỗ nọ khi thọ dụng đồ khất thực do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 33Sapadānaṃ piṇḍapātaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ thọ dụng đồ khất thực theo tuần tự’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thọ thực từ trên xuống dưới”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên thọ dụng đồ khất thực theo tuần tự. Vị nào lựa chọn chỗ này chỗ kia khi thọ dụng đồ khất thực do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị lựa chọn trong lúc bố thí đến những vị khác, vị lựa chọn trong lúc bỏ sang vật đựng khác, (khi lấy ra) các món đặc biệt, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 34Samasūpakaṃ piṇḍapātaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ thọ dụng đồ khất thực với lượng xúp tương xứng’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên thọ thực canh vừa với cơm”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, khi (xúp) có thêm nhiều món khác nhau để tăng hương vị, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, do vật sở hữu của bản thân, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 35Na thūpakato omadditvā piṇḍapātaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không vun lên thành đống rồi thọ dụng đồ khất thực’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thọ thực từ đỉnh giữa bát”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên vun lên thành đống rồi thọ dụng đồ khất thực. Vị nào vun lên thành đống rồi thọ thực do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, sau khi gom chung phần ít ỏi còn sót lại làm vun lên rồi thọ dụng, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 36Na sūpaṃ vā byañjanaṃ vā odanena paṭicchādessāmi bhiyyokamyataṃ upādāyāti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không dùng cơm che lấp xúp hoặc thức ăn với ý muốn được nhiều hơn’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên che đậy canh, đồ ăn bằng cơm, vì tham muốn nhiều”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên dùng cơm che lấp xúp hoặc thức ăn với ý muốn được nhiều hơn. Vị nào dùng cơm che lấp xúp hoặc thức ăn với ý muốn được nhiều hơn do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, các thí chủ phủ kín lại rồi bố thí, không có ý muốn được nhiều hơn, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 37Na sūpaṃ vā odanaṃ vā agilāno attano atthāya viññāpetvā bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Khi không bị bệnh, ta sẽ không yêu cầu xúp và cơm vì nhu cầu của bản thân rồi thọ thực’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Không có bệnh, ta không nên xin cơm, canh để dành cho ta dùng”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, của các thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, do vật sở hữu của bản thân, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 38Na ujjhānasaññī paresaṃ pattaṃ olokessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không nhìn vào bình bát của các vị khác với ý định tìm lỗi’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên nhìn bát người khác có ý chê trách”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên nhìn vào bình bát của các vị khác với ý định tìm lỗi. Vị nào nhìn vào bình bát của các vị khác với ý định tìm lỗi do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ cho’ hoặc ‘Ta sẽ bảo (người khác) cho’ rồi nhìn, vị không có ý định tìm lỗi, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 39Nātimahantaṃ kabaḷaṃ karissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không làm vắt cơm quá lớn’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên dùng miếng cơm lớn quá”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên làm vắt cơm quá lớn. Vị nào làm vắt cơm quá lớn do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, các vật thực cứng, các thứ trái cây, các món ăn đặc biệt, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 40Parimaṇḍalaṃ ālopaṃ karissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ làm nắm cơm tròn đều’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta nên vắt miếng cơm tròn”
Phân tích trong Tạng Luật
“Nên làm nắm cơm tròn đều. Vị nào làm nắm cơm dài do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, các vật thực cứng, các thứ trái cây, các món ăn đặc biệt, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Nhóm 5: Kabaḷa (điều 41–50)
Mười điều về miếng ăn: không há miệng chờ, không bỏ cả bàn tay vào miệng, không nói khi miệng còn đồ ăn, không ném, không cắn, không độn má, không làm rơi vãi.
Nhóm 5: Kabaḷa (HT. Hộ Pháp: miếng cơm; Indacanda: Phẩm Vắt cơm), điều 41–50.
- 41Na anāhaṭe kabaḷe mukhadvāraṃ vivarissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không há miệng ra khi vắt cơm chưa được đưa đến’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Khi miếng cơm chưa đến miệng, ta không nên há miệng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên há miệng ra khi vắt cơm chưa được đưa đến. Vị nào há miệng ra khi vắt cơm chưa được đưa đến do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 42Na bhuñjamāno sabbahatthaṃ mukhe pakkhipissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đưa trọn bàn tay vào miệng trong lúc thọ thực’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Khi đang dùng vật thực, ta không nên bỏ trọn các ngón tay vào miệng”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 43Na sakabaḷena mukhena byāharissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không nói khi miệng có vắt cơm’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên nói chuyện, lúc vật thực còn trong miệng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên nói khi miệng có vắt cơm. Vị nào nói khi miệng có vắt cơm do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 44Na piṇḍukkhepakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực theo lối đưa thức ăn (vào miệng) một cách liên tục’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên ném vật thực vào trong miệng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực theo lối đưa thức ăn (vào miệng) một cách liên tục. Vị nào thọ thực theo lối đưa thức ăn (vào miệng) một cách liên tục do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, các vật thực cứng, các thứ trái cây, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 45Na kabaḷāvacchedakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực theo lối cắn vắt cơm từng chút một’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên cắn vắt cơm từng miếng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực theo lối cắn vắt cơm từng chút một. Vị nào thọ thực theo lối cắn vắt cơm từng chút một do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, các vật thực cứng, các thứ trái cây, các món ăn đặc biệt, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 46Na avagaṇḍakārakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực theo lối làm phồng má’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực, không nên độn cơm bên má như con khỉ”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực theo lối làm phồng má. Vị nào làm phồng má một bên hoặc hai bên rồi thọ thực thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, các vật thực cứng, các thứ trái cây, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 47Na hatthaniddhunakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực có sự vung rảy bàn tay’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực, không nên búng rảy ngón tay”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực có sự vung rảy bàn tay. Vị nào thọ thực có sự vung rảy bàn tay do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị vung rảy bàn tay khi rũ bỏ vật dơ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 48Na sitthāvakārakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực có sự làm rơi đổ cơm’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực, không nên để rơi rải rác”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực có sự làm rơi đổ cơm. Vị nào thọ thực có sự làm rơi đổ cơm do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị làm cơm bị rơi rớt trong lúc rũ bỏ vật dơ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 49Na jivhānicchārakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực có sự le lưỡi’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực, không nên le lưỡi ra khỏi miệng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực có sự le lưỡi. Vị nào thọ thực có sự le lưỡi do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 50Na capucapukārakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực có làm tiếng chép chép’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực không nên có tiếng chắp miệng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực có làm tiếng chép chép. Vị nào thọ thực có làm tiếng chép chép do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Nhóm 6–7: Surusuru, Pāduka (điều 51–75)
Sáu điều cuối về vật thực (không ăn có tiếng, không liếm tay, liếm bát, liếm môi; không cầm ly nước bằng tay dính đồ ăn; không đổ nước rửa bát có hạt cơm ở xóm nhà), rồi bốn điều đầu về cách thuyết pháp.
Nhóm 6: Surusuru (HT. Hộ Pháp: tiếng rột rột; Indacanda: Phẩm Tiếng sột sột), điều 51–60.
- 51Na surusurukārakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực có làm tiếng sột sột’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực, không nên có tiếng rột rột”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực có làm tiếng sột sột. Vị nào thọ thực có làm tiếng sột sột do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 52Na hatthanillehakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực có sự liếm tay’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực, không nên liếm ngón tay”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực có sự liếm tay. Vị nào thọ thực có sự liếm tay do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 53Na pattanillehakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực có sự nạo vét bình bát’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực, không nên vét, nạo bình bát”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực có sự nạo vét bình bát. Vị nào thọ thực có sự nạo vét bình bát do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, sau khi gom chung phần ít ỏi còn sót lại vét ra ngoài rồi thọ dụng, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 54Na oṭṭhanillehakaṃ bhuñjissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ thực có sự liếm môi’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta dùng vật thực, không nên liếm môi”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ thực có sự liếm môi. Vị nào thọ thực có sự liếm môi do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 55Na sāmisena hatthena pānīyathālakaṃ paṭiggahessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thọ lãnh tô nước uống bằng bàn tay có dính thức ăn’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thọ nhận ly nước, bằng tay dính vật thực”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thọ lãnh tô nước uống bằng bàn tay có dính thức ăn. Vị nào thọ lãnh tô nước uống bằng bàn tay có dính thức ăn do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị thọ lãnh (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ rửa’ hoặc ‘Ta sẽ bảo (người khác) rửa,’ trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 56Na sasitthakaṃ pattadhovanaṃ antaraghare chaḍḍessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đổ bỏ nước rửa bình bát có lẫn cơm ở nơi xóm nhà’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên đổ nước rửa bát, có hạt cơm, khi ở trong xóm làng”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên đổ bỏ nước rửa bình bát có lẫn cơm ở nơi xóm nhà. Vị nào đổ bỏ nước rửa bình bát có lẫn cơm ở nơi xóm nhà do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, sau khi đã vớt ra (các hột cơm) hoặc sau khi làm nhừ nát hoặc (đổ vào) ở đồ chứa hoặc đem ra bên ngoài rồi đổ bỏ, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 57Na chattapāṇissa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người có dù ở bàn tay’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh cầm dù trong tay”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thuyết Pháp đến người không bị bệnh có dù ở bàn tay. Vị nào thuyết Pháp đến người không bị bệnh có dù ở bàn tay do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 58Na daṇḍapāṇissa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh có gậy ở bàn tay’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh cầm gậy trong tay”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 59Na satthapāṇissa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh có dao ở bàn tay’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh cầm dao trong tay”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 60Na āvudhapāṇissa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh có vũ khí ở bàn tay’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh cầm khí giới trong tay”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Mười hai điều tiếp theo về thuyết pháp: không thuyết cho người không bệnh đang ở tư thế thiếu cung kính đối với Pháp. Ba điều cuối về đại tiện, tiểu tiện, khạc nhổ.
Nhóm 7: Pāduka (HT. Hộ Pháp: mang guốc; Indacanda: Phẩm Giày dép), điều 61–75.
- 61Na pādukāruḷhassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh có mang giày’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh mang guốc”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thuyết Pháp đến người không bị bệnh có mang giày. Vị nào thuyết Pháp đến người không bị bệnh hoặc đứng ở trên giày, hoặc (mang giày) đã được buộc lại, hoặc đã được cởi ra (ở gót chân), do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 62Na upāhanāruḷhassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh có mang dép’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh mang giày da”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thuyết Pháp đến người không bị bệnh có mang dép. Vị nào thuyết Pháp đến người không bị bệnh hoặc đứng ở trên dép, hoặc (mang dép) đã được buộc lại, hoặc đã được cởi ra (ở gót chân), do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 63Na yānagatassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh ở trên xe’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi trên xe”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 64Na sayanagatassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh đang nằm’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi hay nằm trên giường”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thuyết Pháp đến người không bị bệnh đang nằm. Vị nào thuyết Pháp đến người không bị bệnh đang nằm cho dù ở trên nền đất do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 65Na pallatthikāya nisinnassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi ôm đầu gối’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi khoanh tay choàng 2 đầu gối”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi ôm đầu gối. Vị nào thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi ôm đầu gối bằng tay hoặc ôm đầu gối bằng miếng vải do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 66Na veṭhitasīsassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh đội khăn ở đầu’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh đầu quấn (bịt) khăn”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, sau khi bảo mở tóc ở bên trong ra rồi thuyết giảng, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 67Na oguṇṭhitasīsassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh có đầu được trùm lại’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không nên thuyết pháp cho người không bệnh đầu trùm khăn”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, sau khi bảo tháo vật trùm đầu ra rồi thuyết giảng, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 68Na chamāyaṃ nisīditvā āsane nisinnassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không ngồi ở nền đất rồi thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi trên chỗ ngồi’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi dưới nền đất, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi trên chiếu, nệm”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên ngồi ở nền đất rồi thuyết Pháp đến người ngồi trên chỗ ngồi. Vị nào ngồi ở nền đất rồi thuyết Pháp đến người ngồi trên chỗ ngồi do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 69Na nīce āsane nisīditvā ucce āsane nisinnassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không ngồi ở chỗ ngồi thấp rồi thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi trên chỗ ngồi cao’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta ngồi chỗ thấp, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi chỗ cao”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên ngồi ở chỗ ngồi thấp rồi thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi trên chỗ ngồi cao. Vị nào ngồi ở chỗ ngồi thấp rồi thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi trên chỗ ngồi cao do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 70Na ṭhito nisinnassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Ta sẽ không đứng thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đứng, không nên thuyết pháp cho người không bệnh ngồi”
Phân tích trong Tạng Luật
“Không nên đứng thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi. Vị nào đứng thuyết Pháp đến người không bị bệnh ngồi do không có sự tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa.”
- 71Na pacchato gacchanto purato gacchantassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Khi đang đi phía sau, ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh đang đi phía trước’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đang đi đằng sau, không nên thuyết pháp cho người đi đằng trước”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 72Na uppathena gacchanto pathena gacchantassa agilānassa dhammaṃ desessāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Khi đang đi bên đường, ta sẽ không thuyết Pháp đến người không bị bệnh đang đi giữa đường’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta đang đi bên lề đường, không nên thuyết pháp đến người đi giữa đường”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 73Na ṭhito agilāno uccāraṃ vā passāvaṃ vā karissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Khi không bị bệnh, ta sẽ không đứng đại tiện hoặc tiểu tiện’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không có bệnh, không nên đứng tiểu tiện, đại tiện”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
- 74Na harite agilāno uccāraṃ vā passāvaṃ vā kheḷaṃ vā karissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Khi không bị bệnh, ta sẽ không đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ trên cỏ cây xanh’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không có bệnh, không nên tiểu tiện, đại tiện hoặc khạc nhổ nước miếng trên cỏ cây xanh”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, vị đã thực hiện ở chỗ không có cỏ cây xanh rồi khỏa cỏ cây xanh ra che lại, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
- 75Na udake agilāno uccāraṃ vā passāvaṃ vā kheḷaṃ vā karissāmīti sikkhā karaṇīyā.“‘Khi không bị bệnh, ta sẽ không đại tiện hoặc tiểu tiện hoặc khạc nhổ vào trong nước’ là việc học tập nên được thực hành.”HT. Hộ Pháp“Ta không có bệnh, không nên tiểu tiện, đại tiện hoặc khạc nhổ nước miếng trong nước”
Phân tích trong Tạng Luật
“”
Trường hợp vô tội riêng: “Không cố ý, khi thất niệm, vị không biết, vị bị bệnh, sau khi thực hiện trên đất rồi xối nước, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Tra theo việc · tìm nhanh · phán xét
Đang làm gì? Nhớ những điều nào
🔎 Tìm nhanh trong 75 điều
⚖️ Thử phán xét — 8 tình huống
Oai nghi là tiếng nói không lời
Bảy mươi lăm điều không có tội nặng, nhưng chính chúng làm nên dáng vẻ của người xuất gia khi bước vào xóm làng, khi nhận bát cơm của thí chủ, khi ngồi giảng Pháp. Với sa-di, HT. Hộ Pháp dạy phải thực hành như Tỳ-khưu; BMC ghi đó là thông lệ dạy sa-di.
Chỉ cần nhớ ba chữ: kín đáo (y che thân), nhẹ nhàng (tiếng nói, cử động), tôn trọng (vật thực và Giáo Pháp).
Thẻ thuật ngữ & trắc nghiệm
Thẻ thuật ngữ Pāli — bấm để lật
Trắc nghiệm 15 câu
✍️Bài tập Sa-di 5 — 59 câu, 8 dạng bàiTrắc nghiệm · Chọn nhiều · Đúng/Sai · Tình huống · Điền từ · Nối cặp · Sắp xếp · Phân loạiLàm bài tập →Tài liệu tham khảo
- Tỳ-khưu Indacanda (dịch), Phân tích Giới Tỳ-khưu II, phần Ưng học pháp, tamtangpaliviet.net.
- Tỳ-khưu Hộ Pháp, Gương Bậc Xuất Gia, mục “75 Điều Học Tập (Sekkhiya)”.
- Ṭhānissaro Bhikkhu, The Buddhist Monastic Code II, chương “Novices”, dhammatalks.org.
- Bản Pāli Mahāsaṅgīti, Bhikkhuvibhaṅga – Sekhiya, SuttaCentral.
📚 Mở Thư viện: đọc hoặc tải trọn các sách này →

